Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 5

Ngày đăng: Thứ tư 18/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Do đó, hầu như không có ai đặt vấn đề Lạc thư – Hà đồ là một sản phẩm sáng tạo hay là một sự phát hiện vào đời Tống. Nhưng có thể nói rằng: Cho đến tận ngày hôm nay, hầu hết những nhà nghiên cứu về kinh Dịch vẫn chưa khám phá được nội dung bí ẩn của Lạc thư – Hà đồ với nguồn gốc thần bí và sự liên quan của nó với Bát quái. Những lập luận phản bác cũng như thừa nhận đều hết sức mơ hồ. Bởi vậy, khi nói đến lịch sử và căn nguyên của Bát quái, những nhà nghiên cứu vẫn phải lặp lại những điều mà các nhà Lý học thời Hán đã nói tới, dù tin hay không tin. Tức là họ vẫn phải nói đến: Hà đồ là căn nguyên của sự hình thành đồ hình Tiên thiên Bát quái, Lạc thư là căn nguyên của sự hình thành đồ hình của Hậu thiên Bát quái – nếu như không phải là một sự thừa nhận tính hợp lý, thì cũng là sự thừa nhận một hiện tượng đã tồn tại trong lịch sử của kinh Dịch từ cổ thư chữ Hán. Việc tìm hiểu vấn đề này sẽ là một yếu tố quan trọng trong việc chứng minh cho giả thuyết được đặt ra.
Như phần trên đã trình bày: Đến đời nhà Tống, đồ hình Tiên thiên Bát quái và Hậu thiên Bát quái cùng Lạc thư – Hà đồ mới xuất hiện, chứng minh cho phần kinh văn được coi là liên quan đến những đồ hình này trong kinh Dịch truyền từ đời Hán. Những đồ hình xuất hiện sau lại được coi là căn nguyên của cái có trước đó cả 1000 năm. Tuy nhiên, sự vô lý đó lại được bảo chứng bằng những đoạn kinh văn của chính kinh Dịch. Căn cứ vào đấy những học giả thời Hán đã nói đến Hà đồ Lạc thư.
Những đoạn kinh văn trong kinh Dịch truyền từ đời Hán liên quan đến hai đồ hình trên, xin được trích dẫn từ sách Kinh Dịch – Đạo của người quân tử (sách đã dẫn) để bạn đọc tham khảo :

Hệ từ thượng chương IX – tiết 1: Thiên nhất, Địa nhị, Thiên tam, Địa tứ, Thiên ngũ, Địa lục, Thiên thất, Địa bát, Thiên cửu, Địa thập.
Số của trời là một, của đất là hai, của trời là ba, của đất là bốn, của trời là năm, của đất là sáu, của trời là bảy, của đất là tám, của trời là chín, của đất là mười.

Liên hệ nội dung đoạn kinh văn trên với hình Hà đồ:

Hà đồ
Do vua Phục Hy phát hiện trên Long Mã

Hà đồ cửu cung

So sánh các số trong Hệ từ thượng chương IX – tiết 1 nói trên hoàn toàn trùng khớp với số của Hà đồ. Những số trời có thể coi là số thuộc Dương (vòng tròn trắng); số của đất có thể coi là số thuộc Âm (vòng tròn đen). Bạn đọc có thể liên hệ với hình Hà đồ ở trên. Nhưng mười số trong đoạn trích dẫn trên cũng trùng khớp với thập Thiên can, xin bạn đọc xem bảng dưới đây.

Có lẽ đây là cơ sở để ông Thiệu Vĩ Hoa cho rằng đoạn văn trên nói đến thập Thiên can, chứ không phải nói đến Hà đồ và những nhà lý học đời Tống đã phóng tác ra hình Hà đồ; Hà đồ là không có thật.

Hệ từ thượng chương IX – tiết 2: Thiên số ngũ, địa số ngũ. Ngũ vị tương đắc, nhi cát hữu hợp. Thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập. Phàm thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ. Thử sở dĩ thành biến hoá nhi hành quỉ thần dã.
Có năm số về trời (tức những số lẻ: 1, 3, 5, 7, 9), năm số về đất (tức những số chẵn: 2, 4, 6, 8, 10). Có năm số về trời tương đắc với năm số về đất (theo Chu Hi thì 1 tương đắc với 2; 3 với 4; 5 với 6; 7 với 8; 9 với 10), và có năm số về trời hợp với năm số về đất (cũng theo Chu Hi, 1 hợp với 6, 2 hợp 7, 3 hợp với 8, 4 hợp với 9, 5 hợp với 10). Tổng số của trời là 25 (1 + 3 + 5 + 7 + 9); cộng cả số của trời và của đất là 55 (25 + 30). Do đó mà thành ra biến hoá và hành động như quỉ thần.

Các số trong Hệ từ thượng chương IX – tiết 2 hoàn toàn trùng khớp với số của Hà đồ. Bạn đọc liên hệ với hình Hà đồ ở trên sẽ nhận thấy rằng: tất cả những số lẻ trùng khớp với số vòng tròn trắng (Dương), tất cả những số chẵn trùng khớp với số vòng tròn đen (Âm). Tổng số vòng tròn trắng đúng bằng 25, tổng số vòng tròn đen đúng bằng 30. Tổng số vòng tròn đen trắng trên Hà đồ đúng bằng 55. Nhưng nếu ta cộng các số trong thập Thiên can thì cũng được đúng với các độ số nói trên.

Tổng độ số Thập Thiên Can = 55

Hệ từ thượng chương IX – tiết 3: Đại diễn chi số ngũ thập. Kỳ dụng tứ thập hữu cửu, phân nhi vị nhị dĩ tượng lưỡng. Quải nhất dĩ tượng tam. Thiệt chi dĩ tứ dĩ tượng tứ thời. Qui cơ ư lặc dĩ tượng nhuận. Ngũ tuế tái nhuận, cố tái lặc nhi hậu quải.
Số đại diễn là 50 *. Nhưng trong việc bói chỉ dùng 49 cọng cỏ thi, chia làm hai để tượng trưng lưỡng nghi (hay trời đất). Rồi lấy 1 cài vào khe ngón út tay trái để tượng trưng tam tài (trời, đất, người). Tách ra mà đếm cứ 4 một để tượng trưng bốn mùa. Dành chỗ lẻ còn lại mà kẹp ở khe ngón giữa tay trái để tượng trưng tháng nhuận. Năm năm thì có hai năm nhuận cho nên dành ra hai lần lẻ, rồi sau làm lại từ đầu.

------------------------------
(*) Chú thích (trong sách đã dẫn): tiết này khó hiểu và nói về cách thức bói. Chu Hi bảo: “Số đại diễn là 50 vì trong cung Hà đồ, số trời 5 cưỡi trên số đất 10 mà thành ra”. Chúng tôi chẳng hiểu gì cả.

Trong chú thích trên, học giả Nguyễn Hiến Lê còn chú thích thêm bản dịch của một số học giả khác liên quan đến phần cuối của đoạn trên. Nội dung của nó nói về phương pháp bói cỏ thi. Người viết xin lưu ý bạn đọc về số đại diễn là 50 và việc bỏ đi 1 để còn 49. Vấn đề này sẽ liên quan đến Lạc thư – Hà đồ trong sự minh chứng ở phần III.

Hệ từ thượng chương XI – Tiết 8: Thị cố thiên sinh thần vật thánh nhân tác chi; thiên địa biến hoá, thánh nhân hiệu chi; thiên thuỳ tượng, hiện cát hung, thánh nhân tượng chi; Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi.
Cho nên trời sinh ra thần vật (Hà dồ, Lạc thư) thì thánh nhân áp dụng theo; trời đất biến hoá thì thánh nhân bắt chước; trời bày ra hình tượng hiện ra tốt xấu thì thánh nhân phỏng theo mà nảy ra ý tượng; ở sông Hoàng hà hiện ra bức đồ, ở sông Lạc hiện ra hình chữ (Lạc thư) thì thánh nhân áp dụng theo.

Như vậy, cứ theo tinh thần của cách hiểu như trên thì Lạc thư – Hà đồ là hiện tượng có thật nhưng thất truyền, đến đời Tống mới phát hiện và bổ sung. Hiện tượng Lạc thư – Hà đồ là căn nguyên của kinh Dịch còn được nhắc đến trong sách Luận ngữ (thiên Tử Hãn, bài 8) được coi là những lời của ngài Khổng tử mà các học trò ghi chép lại như sau: “Phượng điểu bất trí, Hà bất xuất đồ, Ngô dĩ hĩ phù!” (Chim phượng chẳng đến, bức đồ không hiện trên sông Hoàng hà, ta hết hy vọng chăng!). Chim phượng ngậm sách; kỳ lân, rùa vàng đội sách và rồng ngậm ngọc là những hình ảnh biểu tượng cho thái bình thịnh trị, văn hoá phục hưng theo niềm tin của thế giới Đông phương cổ đại. Ngài Khổng tử không thấy hai vật đó, vì vậy ông cho rằng đạo của ông không thi hành được.
Người đầu tiên cho rằng Hà đồ là căn nguyên của Tiên thiên Bát quái, Lạc thư là căn nguyên của Hậu thiên Bát quái là Khổng An Quốc vào thời Tây Hán như đã trình bày ở trên. Khổng An Quốc là dòng dõi đời thứ 12 của Khổng tử, ông là một danh nho và là quan đại thần dưới triều vua Hán Cảnh Đế, đầu đời Hán Vũ Đế và thuộc lớp thế hệ trước của nhà sử học nổi tiếng Trung Quốc Tư Mã Thiên. Căn nguyên của Tiên thiên Bát quái là Hà đồ được hình thành là căn cứ vào kinh văn trong văn Hệ từ thượng như sau:

“Hà xuất đồ, Lạc xuất thư. Thánh nhân tắc chi”

Câu này từ trước đến nay được hiểu theo hai cách:

Cách hiểu thứ nhất: Khi Ban Cố – thời Hậu Hán – soạn sách Hán thư nghệ văn chí cho rằng: “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư. Thánh nhân tắc chi”; nghĩa là: “Lập nghiệp ở sông Hoàng Hà, viết sách ở sông Lạc, đó chính là thánh nhân Khổng tử…” Đoạn trích dẫn sau đây trong sách Thượng Thư – sách ghi chép thời thượng cổ (Nxb Đồng Nai 1996, Võ ngọc Liên biên soạn, Trần Kiết Hùng hiệu đính, trang 41) để bạn đọc tham khảo:

II. Tiểu tự: về tác giả và thời đại của tiểu tự
1– Cho rằng sách do Khổng tử viết ra: Người đầu tiên cho rằng sách do Khổng tử viết ra là Ban Cố. Ông viết trong Hán thư nghệ văn chí rằng: “Dị viết: Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi. Cố thi chi sở khởi viên hỉ, chí Khổng tử soạn yên; Thượng đoán dư Nhiêu hạ bất dư Tần, phàm bách thiên, nhi vị chi tự, ngôn kỳ tác ý”.
(Trong kinh Dịch có viết rằng: Lập nghiệp ở sông Hà, viết sách ở sông Lạc, đó chính là thánh nhân Khổng tử. Sách của Khổng tử vốn đã có từ thời xa xưa, đến Khổng tử mới biên soạn lại; bắt đầu từ thời vua Nghiêu, kết thúc vào đời Tần, có 100 thiên gọi là tự, dựa vào sách xưa để sắp xếp lại ý tứ mạch lạc.)

Như vậy, để chứng minh rằng kinh Thư là do Khổng tử viết thì Ban Cố giải thích câu “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư. Thánh nhân tắc chi” theo một nghĩa khác. Với ý nghĩa này, không thể tìm thấy trong phần kinh văn của kinh Dịch một ý niệm gần gũi hơn cho sự liên quan giữa đồ hình Lạc thư – Hà đồ với Bát quái. Cách hiểu này liên quan đến xuất xứ của kinh Thư và cũng có nhiều học giả phản bác. Nếu so sánh cách hiểu này với cách hiểu thứ hai trình bày sau đây – liên quan đến kinh Dịch – thì hoàn toàn mâu thuẫn nhau. Như vậy, chỉ có một cách hiểu đúng hoặc cả hai đều sai (Về nguồn gốc kinh Thư, hy vọng sẽ có dịp trình bày với đọc giả trong một cuốn sách khác).

Cách hiểu thứ hai: là cách hiểu chính thống liên quan đến kinh Dịch, vẫn là trên sông Hoàng Hà xuất hiện Hà đồ (Có sách chép: Hà đồ xuất hiện ở sông Mạnh Hà – còn gọi là Mạnh Độc huyện Vũ Tiến, tỉnh Giang Tô – Trung Quốc); trên sông Lạc xuất hiện Lạc thư, các bậc thánh nhân là Phục Hy và Chu Văn Vương căn cứ vào đó để sắp xếp đồ hình Tiên thiên và Hậu thiên. Những ý kiến từ thời Hán đến nay ủng hộ quan điểm này có thể tổng hợp qua một số dẫn chứng tiêu biểu để bạn đọc tham khảo. Đoạn trích dưới đây trong sách Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông phương (sách đã dẫn).

Vì vậy ngay ở đầu sách “Chu Dịch Bản Nghĩa”, Chu Hy đã giới thiệu Hà đồ, Lạc thư bằng hai hình vẽ với những chú thích sau đây:
Hệ từ truyện nói: “Đồ xuất hiện ờ sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc, đấng thánh nhân bắt chước theo”. Lại nói: “Trời một, đất hai, trời ba, đất bốn, trời năm, đất sáu, trời bảy, đất tám, trời chín đất mười. Trời có năm số, đất có năm số. Năm ngôi tương đắc đều hợp nhau. Số trời có 25 (1 + 3 + 5 + 7 + 9 = 25); số đất có 30 (2 + 4 + 6 + 8 + 10 = 30). Tổng số trời đất có 55 (25 + 30), con số này hình thành sự biến hoá và điều hành việc quỉ thần. Đó là số Hà đồ. Lạc thư lấy tượng rùa, cho nên số của nó thì đầu đội 9 chân đạp 1, sườn trái 3, hông phải 7, vai mang 2, 4; chân đi 6, 8”. Thái Nguyên Định nói: “Về cái tượng của Đồ, Thư thì từ Khổng An Quốc, Lưu Hâm đời Hán, Quan Lăng tự Tử Minh đời Nguỵ, đến Khang Tiết tiên sinh là Thiệu Ung, Nghiêu Phu đời Tống, ai cũng đều bảo như vậy. Đến Lưu Mục, ông đổi tên cả hai số và được các học giả dùng theo. Cho nên đời nay đổi lại, hết thảy đều theo cũ”.

Như vậy, bắt đầu từ người nghiên cứu Dịch học xưa nhất là Khổng An Quốc cho rằng Hà đồ là cơ sở của Bát quái Tiên thiên, nhưng không có một tư liệu nào trước Tống chứng tỏ sự công bố đồ hình liên quan giữa Bát quái Tiên thiên và Hà đồ. Nếu coi Nho học nói chung thuộc về văn hóa Trung Hoa ảnh hưởng đến Việt Nam, thì Tống nho chính là sự ảnh hưởng lớn hơn cả. Sự kiện Hà đồ là cơ sở của Bát quái Tiên thiên, Lạc thư là cơ sở của Bát quái Hậu thiên do những nhà lý học thời Tống minh chứng tiếp nối Hán Nho được nhiều nhà Lý học coi như một giá trị chính thống. Cho đến tận ngày nay, vẫn có một số nhà nghiên cứu Dịch học hiện đại thừa nhận và tiếp tục chứng minh cho vấn đề này. Đoạn sau đây được trích trong Dịch học tinh hoa (Nxb T/p Hồ Chí Minh 1992, tác giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần, trang 83) để bạn đọc tham khảo.

2. Ở Hà đồ, ta thấy nửa bên trái số Dương (phần Dương) đều ở bên trong; ở Tiên thiên Bát quái, ta cũng thấy các hào Dương đều ở bên trong (ở sơ hào, gần nhất với trung cung). Bên mặt của Hà đồ, số Dương (phần Dương) ở bên ngoài, mà số Âm (phần Âm) ở bên trong; ở Tiên thiên Bát quái, bên mặt các quái cũng đều Dương bên ngoài, Âm bên trong. Như vậy giữa Hà đồ và Tiên thiên Bát quái quả có sự liên lạc mật thiết với nhau, cũng như sau đây ta sẽ thấy Lạc thư liên lạc mật thiết với Hậu thiên Bát quái vậy.
Tóm lại, nửa phần trái (Tiên thiên) thì “Âm hàm Dương” (Âm ngậm Dương); nửa phần mặt (Hậu thiên) thì “Dương hàm Âm”. Dương ở trong là Dương tụ: dương ra ngoài là dương Tán. Phía trái, vì vậy, thuộc về nội hướng, phía mặt thuộc về ngoại hướng (trung vi chủ, ngoại vi khách) như đã nói trước đây.
Nhận xét này rất quan trọng. Có lẽ nhân sự nhận xét này của Dịch (Hà đồ) mà nhà tâm lý học về bề sâu J.C. JUNG mới có phân Đông Tây, và cho Đông thuộc nội hướng, Tây thuộc ngoại hướng. Có lẽ cũng nhân nhận xét này mà Jung mới đưa ra lập thuyết : “Extraversion et introversion sont également en rapport de compensation mutuelle. Si le conscient est extraverti, l’inconscient est introverti, et vice–versa. Ceci est d’une importance capitale pour toute connaissance psychologique”. (Nội hướng và ngoại hướng luôn bù đắp lẫn nhau. Hữu thức mà ngoại hướng thì vô thức nội hướng, và trái ngược lại. Đây là một điều quan trọng căn bản cho bất cứ sự hiểu biết nào về tâm lý).

Hà đồ và tiên thiên bát quái

Về sự liên quan giữa Lạc thư và Hậu thiên Bát quái, học giả Nguyễn Duy Cần cũng nhận xét như sau:

Cũng như Hà đồ liên quan rất mật thiết với Tiên thiên Bát quái; Lạc thư cũng liên quan rất mật thiết với Hậu thiên Bát quái.
Nhìn vị trí các con số của Lạc thư và Hậu thiên Bát quái (số thứ tự của Hậu thiên Bát quái là: nhất Khảm, nhì Khôn, tam Chấn, tứ Tốn, ngũ Trung, lục Kiền, thất Đoài, bát Cấn, cửu Ly (*) ta thấy giống hệt nhau.
Về công dụng của Lạc thư và Hậu thiên Bát quái thật là nhiều vô kể, nhất là áp dụng vào những khoa thực dụng như Y học, Toán học, Hóa học v.v…

* Chú thích: Số thứ tự của các quẻ trong Hậu thiên Bát quái công bố vào thời Tống thấy có ứng dụng trong rất nhiều sách Lý học Đông phương ở các bản dịch chữ quốc ngữ của Việt Nam như: Hà Lạc lý số, Kỳ môn độn giáp. Trong cuốn “Không gian kinh Dịch với dự báo qua Bát Tự Hà Lạc” (Nxb VHTT 1997 - tác giả Bùi Biên Hòa) cũng coi đây như là một trị số của dạng thức không gian.

Trong cuốn Kinh Dịch (Nxb T/p Hồ Chí Minh 1992, dịch giả Ngô Tất Tố, trang 26) viết:

Cho Hà đồ – Lạc thư là không đủ tin, từ ông Âu Dương (tức Âu Dương Tu, học giả đời Tống) trở lại đã có thuyết ấy. Nhưng mà ở thiên Cổ mệnh, thiên Hệ từ và sách Luận ngữ đều có nói thế cả, và cái số trong hai đồ của chư Nho truyền lại, tuy có na ná giống nhau nhưng không sai trái với nhau, tính xuôi, suy ngược, ngang dọc, cong thẳng, đều có phép tắc rõ ràng, không thể phá bỏ đi được. Cũng như Hà đồ từ số 1 của trời đến số 10 của đất hợp lại thành số năm nhăm của trời đất, thì kinh Dịch chính do ở đó mà ra; Lạc thư từ thứ 1 đến thứ 9 hợp lại mà đủ số của chín trù, thì thiên Hồng phạm vẫn do ở đó mà ra. Thiên Hệ từ tuy không nói rõ vua Phục Hy nhận Hà đồ để làm kinh Dịch, nhưng mà ở trong đó có nói những việc “Ngửa xem, cúi xét, nghiệm gần, nghiệm xa”, thì biết đâu rằng Hà đồ không phải một việc trong các việc đó? Đại để nguyên do chế tác của thánh nhân, không phải chỉ có một điều, xong cái khuôn khổ của pháp tượng, chắc phải có chỗ rất quan hệ. Như đời Hồng Mông, khoảng giữa trời đất, khí của Âm dương dẫu đều có tượng, nhưng mà chưa từng có số. Đến khi Hà đồ hiện ra, rồi sau cái số năm nhăm, hoặc lẻ, hoặc chẵn, hoặc sinh, hoặc thành, rõ ràng có thể trông thấy, cái đó là để mở mang trí riêng của thánh nhân, không thể đem ví với những khí tượng mênh mang. Vì vậy, thánh nhân “ngửa lên mà xem, cúi xuống mà xét, gần nghiệm ở mình, xa nghiệm ở vật” tới đó mà sau những sự Âm dương chẵn lẻ của hai Nghi, bốn Tượng, tám Quẻ có thể nói rõ ra được, thiên Hệ từ nói về nguyên do thánh nhân làm ra kinh Dịch, tuy là không phải một điều, nhưng bảo nhờ có Hà đồ rồi sau việc làm kinh Dịch mới quyết cũng không hại gì.

Nói tóm lại, kể từ thời Hán cho đến đời Tống, quan điểm cho rằng Hà đồ căn nguyên của Tiên thiên Bát quái, Lạc thư là căn nguyên của Hậu thiên Bát quái được những nhà lý học nổi tiếng như: Trần Đoàn Lão tổ (được coi là tác giả của Tử Vi Đẩu số), Thiệu Khang Tiết (được coi là tác giả của Mai Hoa Dịch số)… công bố và gán cho những bậc thánh hiền như: Phục Hy, Chu Công và được những danh Nho tên tuổi thừa nhận như: Chu Hy, Trình Di,... Bởi vậy, quan điểm trên gần như được coi là chính thống và ghi nhận trong lịch sử phát triển kinh Dịch, ảnh hưởng đến tận bây giờ.
Tuy nhiên, như phần trên đã trình bày, cho đến tận ngày hôm nay Hà đồ – Lạc thư vẫn là một đồ hình đầy bí ẩn về cả xuất xứ lẫn nội dung của nó. Do đó, cũng không ít người hoài nghi căn nguyên của đồ hình Bát quái có xuất xứ từ Hà đồ – Lạc thư. Đoạn trích dẫn dưới đây trong cuốn Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông phương (sách đã dẫn, trang 85) có thể tiêu biểu cho những ý kiến phản bác của một số nhà lý học cổ Trung Hoa:

Tuy nhiên, không phải ai cũng dễ tính như ai! Ngay trong làng Nho, thiếu gì người lên tiếng đả kích Hán nho, nhất là đả kích Khổng An Quốc. Du Diễm đời Tống căn cứ vào câu nói của Khổng tử trong Dịch Hệ thượng: “Đồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc, đấng thánh nhân bắt chước theo” mà cho rằng Đồ Thư đều xuất hiện ở thời Phục Hy, chứ không phải hai thời khác nhau như họ Khổng đã chia ra. Ông nói: “Phục Hy bắt chước theo Hà đồ, Lạc thư mà vạch quái. Thế mà Khổng An Quốc lại bảo Phục Hy hoạch quái phải bắt chước theo Hà đồ, còn Đại Vũ bày Cửu Trù phải bắt chước theo Lạc thư. Vì sao họ Khổng lại chia làm hai như vậy? Sách Cửu Cung biện nghi của họ Trần xét theo Ngọc xuyên văn tập có nói: “Nếu bảo Phục Hy vạch quái, gốc ở Hà đồ thì Khổng tử chỉ cần nói Đồ xuất hiện ở sông Hà, đấng thánh nhân bắt chước theo là đủ rồ, hà tất phải nói gồm cả Lạc thư vào nữa làm gì? Đã nói: bắt chước theo Đồ, Thư để làm Dịch thì như thế Đồ Thư đều phải có từ đời Phục Hy, chứ sao lại phải đợi mãi tới vua Vũ trị thủy sau này mới có Lạc thư”? Họ Du tiếp thêm: “Số của Dịch bất quá từ Trời 1 đến Đất 10, chỉ có 55 số mà thôi, chứ chưa từng được mệnh danh là Hà đồ, cũng như chưa từng được mệnh danh là Lạc thư. Thế mà Khổng An Quốc dám bảo: Thời Phục Hy có con long mã mang Đồ xuất hiện ở sông Hà, nhà vua thấy vậy bèn bắt chước theo để vạch Bát quái, gọi là Hà đồ, và thời Đại Vũ có con thần qui mang Thư xuất hiện ở sông Lạc, nhà vua thấy vậy bèn nhân đó xếp đặt điểm số để lập thành Cửu trù, gọi là Lạc thư. Họ Khổng căn cứ vào đâu vậy?”
Chưa hết, Du còn phê bác, chỉ trích nhiều điểm khác: “Thời vua Phục Hy chưa có văn tự. Nhà vua nhân những nét chấm của Hà đồ, Lạc thư mà hoạch quái, chứ chẳng phải Đồ Thư có những số trời sinh sẵn để cho ngài lấy dùng! Nếu Dịch Hệ từ nói: ngửa trông tượng ở trên trời, cúi xem phép ở dưới đất, quan sát hình nét của chim muông cùng với sự thích nghi của đất, gần thì lấy ở mình, xa thì lấy ở vật, do đó mới vạch Bát quái; vậy thì Phục Hy hoạch quái há chỉ riêng Hà đồ và Lạc thư thôi sao?”
…Tiền Nghĩa Phương đời Nguyên cũng lên tiếng đả kích Hán Nho. Ông chê cả Chu tử, vì họ Chu đã nghe theo bọn Khổng An Quốc và Lưu Hâm đời Hán. Quốc và Hâm đều bảo Phục Hy bắt chước Hà đồ để vạch Bát quái, hậu thế tin theo hết đời nọ sang đời kia mà chẳng biết tỉnh ngộ. Hiền tài như Chu tử mà cũng không thoát khỏi khúc thuyết (lời nói quanh co không chính xác), cuối cùng cũng chẳng thông hiểu vấn đề!
Đến cả Chu tử vốn một tay kiệt hiệt trong làng Nho mà còn chẳng hiểu vấn đề, thử hỏi những kẻ dung tài, lục lục thử bối, xa tải đẩu lượng (lúc nhúc như lũ chuột, đông đến nỗi lấy xe chở, lấy đấu đong cũng không hết) thì còn hiểu được gì nữa?
Họ Tiền còn trách Khổng An Quốc lầm lẫn không phải có một đối với Dịch. Ông nêu ra việc luận về chế khí thượng tượng trong Hệ từ của họ Khổng. Ông nói: “Việc chế khí thượng tượng gồm có 13 quẻ thì lưới vó một việc là do Phục Hy, giao dịch 2 việc là do Thần Nông, và thư khế 9 việc là do Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn. Những sự kiện này ghi chép hết sức phân minh, thế mà An Quốc khi viết tựa cho sách mình, lại đưa thư khế của Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn qua cho Bào Hy. Đức Khổng tử còn nói: Bào Hy ngửa trông cúi xét, để vạch Bát quái, thế mà An Quốc dám bảo Bào Hy bắt chước Hà đồ để vạch Bát quái! Lưu Hâm tin thuyết của An Quốc nên nối gót lý luận. Thực ra, An Quốc lầm ở trước, Lưu Hâm lầm ở sau; hậu thế tin theo, ngàn thu nhất luật! An Quốc chính là người có tội đối với Dịch!”
…Còn Tiền Nghĩa Phương – kiện tướng bậc nhì chống đối Hán Nho – chủ trương của ông ra sao? Trong một cuộc phỏng vấn về lý do tại sao người xưa nói tới Hà đồ liền nhắc luôn đến Lạc thư mà riêng ông lại loại bỏ Lạc thư ra ngoài, thì ông trả lời: “Hà đồ được Phục Hy lấy đem dùng đã có hơn ngàn năm, rồi Lạc thư mới xuất hiện. Đức thánh ta (Khổng tử) lấy cả hai, chẳng qua vì hai việc Long Quy phụ văn xuất hiện ở hai sông Hà, Lạc cùng giống nhau. Đến khi đấng thánh nhân bắt chước và đem dùng để khai sáng mọi vật, hoàn thành mọi việc, thì công dụng của chúng cũng giống nhau. Đó tức là lấy lý mà suy số. Hai việc ấy lại có thể tương thông nhau, cho nên Ngài đều nói tới cả hai chứ không phải bảo cứ làm Dịch là phải lấy cả Lạc thư. Vì phát minh Dịch lý nên tới căn cứ vào Hà đồ chứ không căn cứ vào Lạc thư: đó là điều nên lắm.

Cho đến tận bây giờ, vẫn tiếp tục có ý kiến phản bác của các học giả hiện đại. Đoạn trích dẫn sau đây trong sách Chu Dịch và dự đoán học (sách đã dẫn, trang 21) của tác giả Thiệu Vĩ Hoa. Ông cũng cho rằng đồ hình Tiên thiên và Hậu thiên Bát quái không có căn nguyên từ Hà đồ – Lạc thư:

Từ sau đời Tống, phàm là sách về chú “dịch”, luận “dịch” trị “dịch đều lấy các hình “Hà đồ” “Lạc đồ” làm một bộ phận quan trọng của “Chu dịch”. Thậm chí có người nói, Bát quái là căn cứ “Hà đồ”, “lạc đồ” mà vẽ ra, ban đầu “Chu dịch dựa theo “Đồ” “Thư” mà làm ra. Vì người ta cho rằng Phục Hy đã dựa theo “Hà đồ” mà làm ra Bát quái, cho nên trong “Kinh sơn hải” nói: “Phục Hy được Hà đồ, người Hạ do đó mà nói rằng “Liên sơn”. Nhưng tôi (tức ông Thiệu Vĩ Hoa) cho rằng Bát quái trong sách “Liên sơn” tuy có thể ra đời từ Nhà Hạ, nhưng Bát quái không nhất thiết theo “Hà đồ” mà làm ra. Vì trong nguyên văn của “Kinh Dịch không đề cập đến “Hà đồ”, “lạc đồ”.
Về “Hà đồ” “Lạc đồ” có đủ các loại truyền thuyết thần kỳ. Tương truyền ở xã hội nguyên thủy Trung Quốc, các lãnh tụ bộ lạc thời Phục Hy có long mã nổi lên ở sông Hoàng Hà, lưng mang “Hà đồ”, có rùa thần xuất hiện ở Lạc Thủy, lưng mang “Lạc thư”. Phục Hy sau khi được đã căn cứ vào các điểm Âm dương trên “Hà đồ”, “Lạc đồ” mà vẽ ra Bát quái. Về sau Chu Hy đã thần hóa, nói “Hà đồ”, “Lạc đồ” là “Dịch của trời đất”.
Thuyết “Hà đồ” “Lạc đồ” trong cuốn “Thượng thư” của Tiên Tần, “Luận ngữ” của Mạnh tử và trong “Hệ từ” đều có ghi lại. Nhưng “Đồ” và “Thư” thực chất là cái gì, chưa có ai nhìn thấy, càng chưa thấy ai nói đến. Trước đời Tống, không ít “Dịch” gia khi viết về “Dịch”, rất ít nói đến “Hà đồ”, “Lạc đồ”, một vài người có nói đến thì cũng chỉ lướt qua. Phong trào nói đến “Hà đồ”, “Lạc thư” vào những năm Thái bình hưng quốc (niên hiệu Tống Thái Tôn). Do đó, từ đời Tống về sau, đối với thuyết “Hà đồ” “Lạc thư” luôn có hai dòng ý kiến khác nhau. Các học giả dịch học đời nhà Thanh như Hồ Vị, Hoàng Tôn Nghĩa đều phản đối cách nói của các nhà nho đời Tống.
Ngày nay, qua nhiều khảo chứng, người ta nói: “Trong “Hà đồ” của người Tống có 55 vòng tròn đen trắng phân bố, e rằng nó được bắt nguồn từ “Hệ từ”. “Hệ từ” nói : “trời 1; đất 2; trời 3; đất 4; trời 5; đất 6; trời 7; đất 8; trời 9; đất 10. Trời có 5 số, đất có 5 số. 5 số của trời cộng lại được 25, năm số của đất cộng lại được 30. Tổng số của trời và đất được 55, cho nên nó biến hóa như quỷ thần vậy”. Cách nói này xem ra có lý.
Thế các số của trời đất trong “Hệ từ” là từ đâu mà ra? Cuộc tranh luận lịch sử này không đi đến kết quả. Tôi (Tức ông Thiệu Vĩ Hoa) cho rằng số của trời đất có thể là lấy từ thiên can: “Giáp ất bính đinh mậu kỷ canh tân nhâp quý” mà ra. Giáp bính mậu canh nhâm là 5 số dương, tổng là 25 số trời; ất đinh kỷ tân quý là 5 số Âm, tổng là 30 số đất. Cả hai tổng số hợp lại là 55. Số thiên địa của Ngũ hành, tuy hợp với Ngũ hành và phương vị, còn với thiên can hóa (tức 60) có chênh lệch, nhưng phương pháp hóa hợp với thiên can là giống nhau. Ví dụ: số của thiên địa 1 và 6 hợp với Thủy chính là Giáp, Kỷ hợp thổ; 2 và 7 hợp với Hỏa, là At Canh hợp Kim; 3 và 8 hợp với Mộc, là Bính Tân hợp Thủy; 4 và 9 hợp với Kim, là Đinh Nhâm hợp Mộc; 5 và 10 hợp với Thổ, là Mậu Quý hợp Hỏa. Số thiên địa thấy trong “Hệ từ”, còn sự ra đời của thập thiên can thì sớm hơn “Hệ từ”, đó là điều không có gì nghi ngờ. Cho nên số thiên địa trong “Hệ từ” rất có khả năng được rút ra từ thập thiên can.
“Kinh Dịch” ra đời sớm hơn “truyện Dịch” bảy, tám trăm năm nên Bát quái không phải dựa trên “Hà đồ”. “Lạc thư” để vẽ. Đó là điều không ai phủ nhận được.

Cũng trong cuốn sách nói trên (trang 25), ông Thiệu Vĩ Hoa đã đưa ra những ý kiến khác nhau của những nhà nghiên cứu cổ kim về căn nguyên của Bát quái; xin được trích dẫn để bạn đọc tham khảo đoạn sau đây:

…Từ xưa tới nay,Bát quái được gọi là sách trời không có chữ, đó là vì nó là lý luận của một khoa học thần kỳ nhưng bí ảo, chưa hề có một tiền lệ nào trong lịch sử văn hóa thế giới. Về nguồn gốc của nó, tự cổ chí kim, tuy sự nghiên cứu và khảo sát chưa bao giờ đưt đoạn, nhưng cho đến nay vẫn là “bí ảo”, mỗi người bàn một cách.
Thứ nhất có người nói nguồn gốc của nó là từ cổ thiên văn. Lý do là chữ “Quái” của “Bát quái” là “từ chữ khuê, chữ bốc. Thổ khuê tức là đem đất chất đống lên mà thành, dùng để đo bóng mặt trời. Về sau không dùng đất chất đống nữa mà dùng một cái gậy cắm đứng, để bảo đảm gậy đứng thẳng, trên đầu gậy buộc một cái dây, phía dưới dây treo vật nặng, cho nên hình của nó là chữ. Đó là lý do nói nguồn gốc của Bát quái từ cổ thiên văn.
Thứ hai có người nói nguồn gốc của Bát quái là văn tự. Chữ xưa : khôn, khảm, chấn, đoài, làm thành Bát quái.
Thứ ba có người nói Bát quái là phù hiệu tám chức quan của thời Phục Hi. Quan quản trời gọi là càn, quan quản đất gọi là khôn, quan quản sấm gọi là chấn, quan quản nước gọi là khảm, quan quản núi gọi là cấn, quan quản gió gọi là tốn, quan quản lửa gọi là ly, quan quản trạch gọi là đoài, cho nên có thuyết nguồn gốc của Bát quái là ở tên quan.
Thứ tư có người nói nguồn gốc của Bát quái là chiêm bốc, là mô phỏng những dấu hiệu của mai rùa mà ra. Bát quái và 64 quẻ đều là những dấu hiệu tiêu chuẩn. Cho nên có thuyết “nguồn gốc dịch quái là quy bốc”. Từ xa xưa đã sớm có: chiêm vật tượng, chiêm thiên tượng, chiên tinh tượng, v.v… Nên nói “nguồn gốc của Bát quái là chiêm bốc”.
Thứ năm có người nói nguồn gốc của Bát quái là “Hà đồ”, “Lạc thư”. Tương truyền ngày xưa có long mã xuất hiện ở sông Hoàng Hà, lưng mang “Hà đồ”; có rùa thần nổi ở Lạc Thủy “lưng mang “Lạc thư”. Phục Hi sau khi được căn cứ vào các điểm Âm dương trên “Hà đồ” và “Lạc thư” mà vẽ ra Bát quái.
Thứ sáu có người nói nguồn gốc của Bát quái là chữ số. Cách ghi số thời cổ là vạch các gạch, sộ một vẽ một gạch, số hai vẽ 2 gạch, số 3 vẽ 3 gạch.
Còn nguốn gốc ký hiệu Âm dương của Bát quái thì còn nhiều cách giải thích hơn nữa. Cách thứ nhất nói là lấy theo bộ phận sinh dục của nam nữ; cách thứ hai nói là ngày xưa dùng từng mắt tre để tính chiêm bốc, một mắt là dương, hai mắt là Âm, hoặc không có mắt là dương có mắt là Âm; cách thứ ba nói: trời một sắc là dương, đất chia làm đất và nước là Âm; cách thứ tư nói trong “Hệ từ” có nói “nút thừng mà trị” là lấy từ phương pháp ghi số nứt thừng ngày xưa. Một nút là dương, hai nút là Âm. Về sau chiêm vệ dùng để biểu thị số của chiêm bốc nên làm thành Bát quái. Thời gian xuất hiện của phù hiệu Bát quái là vấn đề rất phức tạp, đã có những khảo chứng cho rằng có thể nó xuất hiện cách đây 5000 năm, nhưng ngày nay lại có phát hiện mới “Trên những mảnh gốm cách đây 1 vạn năm đã có những vạch vẽ giống Bát quái”. (“Kết cấu chữ số của hình dịch”).

Qua phần trích dẫn và trình bày ở trên về căn nguyên của Bát quái từ Hà đồ – Lạc thư theo quan niệm chính thống có xuất xứ từ thời Hán và những ý kiến phản bác, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: kể cả quan niệm chính thống lẫn ý kiến phản bác đều hết sức mơ hồ. Tất nhiên, những ý kiến đối lập nhau này phải có một cái đúng và một cái sai, hoặc theo tính hợp lý của nó thì không thể cả hai đều đúng mà chỉ có thể cả hai đều sai. Mặc dù thế nào đi chăng nữa, Bát quái cũng phải có căn nguyên của nó. Người viết xin trở lại vấn đề này trong phần III: “Văn minh Văn Lang và bí ẩn của Bát quái”. Để tìm hiểu rõ hơn về căn nguyên của Bát quái, phần tiếp theo đây sẽ trình bày những vấn đề liên quan đến Lạc thư – Hà đồ trong cổ thư chữ Hán.

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  2. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Lời giới thiệu
  4. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 6
  9. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 7
  10. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - Phụ chương

Bài viết cùng chuyên mục

Chương IV: Một số ý kiến của các học giả cổ kim về những vấn đề căn nguyên trong kinh dịch. Hậu thiên bát quái và hệ thống 64 quẻ chu dịch. Căn nguyên ...

Chương III: Một số quan điểm khác nhau về thời điểm xuất xứ và tác giả của kinh Dịch. Như phần trên đã trình bày, mặc dù hầu hết các học giả khi ...

Chương II: Tóm tắt nội dung và những ký hiệu căn bản của kinh dịch trong cổ thư chữ Hán. Kinh Dịch được truyền lại từ đời Hán là bản Chu dịch, gồm có ...

Phần I: Lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Chương I: Tóm lược lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán Tương truyền vào thời ...

Phần dẫn nhập: Cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch không nhằm giới thiệu nội dung của kinh Dịch theo cách hiểu phổ biến từ trước đến nay qua cổ thư chữ ...

Lời nói đầu: Trong những sách cổ của nền văn minh Đông phương, người ta thường nói đến những phương pháp ứng dụng được thực hiện với một thời gian ...

Lời giới thiệu: Say sưa miệt mài trên con đường tìm hiểu về nền văn hóa Á Đông, từ tác phẩm “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại” rồi ...

Bài viết này tôi tóm lược lại những điểm chính yếu trong tác phẩm Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc của tôi (phát hành vào dịp Tết Đinh Hợi). Ở đây tôi ráng ...

Kinh Dịch là thành tựu văn hóa kiệt xuất của phương Đông. Từ hơn 2000 năm nay, thế giới thừa nhận đó là sản phẩm của người Trung Hoa. Khoảng 30 năm lại ...

Ngôn ngữ của Dịch chỉ có hai ký tự: một hào âm và một hào dương. Hào dương là một vạch liền (-), hào âm là một vạch đứt (--). Đó là hai ký hiệu biểu ...