Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 4

Ngày đăng: Thứ ba 17/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Đế xuất hồ Chấn; Tề hồ Tốn; tương kiến hồ Ly; chí dịch hồ Khôn; thuyết ngôn hồ Đoài; chiến hồ Càn; lao hồ Khảm; thành ngôn hồ Cấn.

Qua đoạn kinh văn ở trên, bạn đọc cũng nhận thấy sự trùng hợp hoàn toàn với thứ tự của các quái trong đồ hình Hậu thiên Bát quái, nếu bắt đầu tính từ quái Chấn thuận theo chiều kim đồng hồ như hình vẽ dưới đây.
Đoạn kinh văn trên còn được diễn giải cụ thể như sau:

Vạn vật xuất từ Chấn, Chấn thuộc phương Đông. Hoà đồng ở Tốn, Tốn thuộc đông nam. Hoà đồng là nói vạn vật tu sửa để được bằng nhau. Ly là sáng, là quẻ của phương Nam, là nơi vạn vật gặp nhau. Đấng thánh nhân quay mặt về nam, lắng tai nghe thiên hạ, theo lời hay ý đẹp mà cai trị, đó là ý nghĩa ở đấy. Khôn là đất; vạn vật đều được Khôn nuôi dưỡng, cho nên nói: làm việc ở Khôn. Đoài thuộc chính thu, đó là lúc vạn vật vui mừng: mừng vui ở Đoài. Chiến đấu ở Kiền, Kiền là quẻ của tây bắc, ý nói nơi Âm dương chống đối. Khảm là nước, là quẻ của chính bắc, là quẻ của công cuộc uỷ lạo, là nơi quay về của vạn vật, cho nên nói: uỷ lạo ở Khảm. Cấn là quẻ của đông bắc, nơi vạn vật hoàn thành chung cũng như thủy, cho nên nói: hoàn thành ở Cấn. (*)

* Chú thích: Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông phương – sách đã dẫn.

Đồ hình thuyết minh sự tương quan giữa thuyết quái
và cấu trúc phương vị hậu thiên bát quái

Tuy nhiên, qua nội dung của đoạn kinh văn nói trên, bạn đọc cũng nhận thấy nó không trực tiếp diễn đạt cấu hình phương vị Hậu thiên Bát quái, mà chỉ là một sự liên hệ trùng hợp theo thứ tự diễn đạt.
Đoạn kinh văn trong Thuyết quái nói trên có đúng là căn nguyên của đồ hình hậu thiên Bát quái hay không thì cho đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. Trong kinh Dịch truyền lại từ đời Hán, không có đồ hình Tiên thiên và Hậu thiên Bát quái. Nhưng không thể vì thế mà cho rằng đồ hình Bát quái nói chung gồm cả Tiên thiên lẫn Hậu thiên không phải là một thực tế tồn tại như là một đồ hình căn nguyên của kinh Dịch. Như vậy, đoạn kinh văn trên vẫn có thể không phải là căn nguyên của đồ hình Hậu thiên Bát quái. Đã có rất nhiều nhà lý học cổ kim căn cứ vào đoạn kinh văn trên để lý giải cấu trúc hợp lý mang tính quy luật bao trùm của đồ hình Hậu thiên Bát quái.
Đoạn dưới đây trình bày sự lý giải của ông Thiệu Vĩ Hoa để bạn đọc nghiệm lý. Sự lý giải của ông Thiệu Vĩ Hoa chưa thể được coi là đúng đắn, nhưng đó là sự lý giải của một nhà lý học nổi tiếng nhất hiện nay và là hậu duệ của nhà lý học Thiệu Khang Tiết thời Tống. Tất nhiên ông Thiệu Vĩ Hoa đã có điều kiện nghiên cứu tổng hợp rất nhiều những sự lý giải của các nhà lý học cổ kim trước ông. Do đó, ít nhất nó cũng tiêu biểu cho sự tổng hợp những lý giải cho đoạn kinh văn nói trên. Ông Thiệu Vĩ Hoa cho rằng:

1) Đế xuất hồ Chấn: vũ trụ vận động bắt đầu từ quẻ Chấn. (Quẻ Chấn là phương đông, lệnh của tháng 2 mùa xuân, mặt trời phía đông mọc lên, là thời kỳ tỏa chiếu cho vạn vật sinh trưởng).
2) Tề hồ Tốn: Vận hành đến quẻ Tốn, vạn vật đã đầy đủ, hưng vượng (Quẻ Tốn là đông nam, lệnh của tháng 3 tháng 4, mặt trời đã lên cao, chiếu rọi vạn vật rõ ràng).
3) Tương kiến hồ Ly: Quẻ Ly là tượng trong ngày, ánh sáng rực rỡ, mọi vật đều thấy rõ (Quẻ Ly là phương nam, lệnh của tháng 5, chính là lúc mặt trời ở trên cao, nhìn rõ mọi vật đang sinh trưởng).
4) Chí dịch hồ Khôn: Thiên đế (chỉ vũ trụ) giao cho đất (Khôn) trọng trách (dịch) nuôi dưỡng vạn vật. (Quẻ Khôn là phương tây nam, lệnh của tháng 6 tháng 7; Khôn là đất, nuôi dưỡng vạn vật, thời kỳ vạn vật đã phát triển đầy đủ).
5) Thuyết ngôn hồ Đoài: là lúc vạn vật tươi vui (thuyết tức tươi vui) bèn ứng ở quẻ Đoài. (Quẻ Đoài là phương tây, lệnh của tháng 8, chính là lúc hoa quả trĩu đầy, lúc mừng được mùa).
6) Chiến hồ Càn: Thời khắc tương ứng với Càn mọi vật mâu thuẫn, đối lập, đấu tranh. (Quẻ Càn là phương tây bắc, lệnh của tháng 9 tháng 10, mặt trời đã xuống chân phía tây, là lúc tối sáng, Âm dương đấu tranh lẫn nhau).
7) Lao hồ Khảm: khi vũ trụ vận hành đến Khảm, mặt trời đã lặn vạn vật mệt mỏi. (Quẻ Khảm là phương bắc lệnh của tháng 11. Khảm là nước, không ngừng chảy, nghĩa là lao khổ. Mặt trời ở phương này hoàn toàn không có, vạn vật mệt mỏi, là lúc yên nghỉ).
8) Thành ngôn hồ Cấn: vũ trụ vận hành đến Cấn là đã hoàn thành một chu kỳ và sắp bước sang một chu kỳ mới. (Quẻ Cấn là phương đông bắc, lệnh của tháng 12 và tháng giêng, tức giao thời của đông và xuân, đen tối sắp qua, ánh sáng sắp tới, vạn vật đến đây đã kết thúc một ngày, cũng là lúc ngày mới sắp bắt đầu) (*).

* Chú thích: Chu Dịch với dự đoán học, sách đã dẫn, trang 20

Những nhà nghiên cứu lý học từ thời Tống trở về sau cho rằng: Hậu thiên Bát quái được sắp xếp theo đồ hình Lạc thư. Hay nói một cách khác đồ hình Lạc thư được coi là căn nguyên của Hậu thiên Bát quái.
Có thể nói rằng: Cho đến tận ngày hôm nay, hầu như rất ít người còn mảy may nghi ngờ cấu trúc đồ hình Hậu thiên Bát quái. Theo như sự tìm hiểu của người viết thì ở Việt Nam có ba học giả là giáo sư Bùi Văn Nguyên, giáo sư Lê Văn Sửu và học giả Nguyễn Hiến Lê đặt vấn đề nghi ngờ tính hợp lý của đồ hình này.
Học giả Nguyễn Hiến Lê đặt vấn đề:

“Nếu quả do Văn Vương sắp lại Bát quái thì tại sao ông lại thay đổi như vậy. Ông để Ly ở phương Nam, có lý, mà Khảm ở phương Bắc, kể như cũng có lý. Vì Khảm trái với Ly, nước trái với hỏa, bắc đối với nam. Nhưng tại sao ông lại không cho Kiền đối với Khôn, như ở đồ hình Tiên thiên, mà lại cho nó đối với Tốn, và cho Khôn đối với Cấn? Chúng tôi thú thực không hiểu nổi!…” (*).

* Chú thích: Kinh Dịch - Đạo của người quân tử. Sách đã dẫn, trang 29.

Lập luận của giáo sư Bùi Văn Nguyên trong cuốn Kinh Dịch Phục Hy (Nxb Khoa học xã hội – 1997) xin được tóm lược và trích dẫn như sau:
Căn cứ theo độ số hào Dương là 3; hào Âm là 2, ứng dụng vào từng quẻ trong Bát quái Hậu thiên chúng ta có độ số như sau:

Trên cơ sở của độ số từng quẻ được tính toán như trên, giáo sư đã xếp vào mô hình Cửu cung và lập luận như sau:

Nhìn qua mô hình hằng số 15 ở trên, chúng ta có:

1– Kiền – Tốn, tức tây bắc – đông nam,
tức 9 + 8 = 17
2– Khảm – Ly, tức bắc – nam,
tức 7 + 8 = 15
3– Cấn – Khôn, tức đông bắc – tây nam,
tức 7 + 6 = 13
4– Chấn – Đoái, tức đông – tây,
tức 7 = 8 = 15

Như vậy, Kiền và Khôn hai quẻ Âm dương, hai quẻ mốc chuẩn, theo cách quay một vòng theo chiều kim đồng hồ, nên nằm ở phương chéo và đối xứng chéo, cuối cùng theo hằng số 15, thì cặp Kiền Tốn thừa 2, và cặp Cấn – Khôn lại thiếu 2, chỉ có hai cặp Khảm Ly và Chấn Đoài, từ phương chéo nhảy vào phương chính và đúng với hằng số 15.

Qua mô hình hằng số 15 nói trên, chúng ta thấy rõ: Bản Chu Dịch dựa vào cơ sở xáo trộn phương vị khoa học Bát quái đồ Phục Hy, lợi dụng kinh Dịch làm chính trị để cướp ngôi cộng chủ các cộng đồng Bách Việt từ nhà Ân Thương khiến bản Chu Dịch mất đi tính khách quan theo đồ hình phương vị của Phục Hy. Sự thắc mắc về lý luận khoa học của học giả Nguyễn Hiến Lê là chính đáng. Chỉ rất tiếc là Nguyễn Hiến Lê đã không kiên trì tìm cách tháo gỡ vướng mắc cho mình, mà lại cứ giáo điều rập khuôn và nói: “Chúng ta đành phải chấp nhận thôi!” (Chú thích trong sách của giáo sư Bùi Văn Nguyên, xem: Kinh Dịch, Đạo của người quân tử, trang 29)

Qua đoạn tóm tắt và trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy bằng cách tính theo độ số, giáo sư Bùi Văn Nguyên đã chứng minh tính mất cân đối về phương vị của Hậu thiên Bát quái (*).

* Chú thích: Vấn đề này đã hân hạnh trình bày với bạn đọc trong cuốn “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại”, trong đó đề cập đến tính bất hợp lý của vị trí quái Tốn và quái Khôn trong Hậu thiên Bát quái, đồng thời cũng đặt vấn đề thay đổi vị trí của 2 quái này cho nhau. Trên cơ sở độ số của các quái theo giáo sư Bùi Văn Nguyên cùng với sự hoài nghi của giáo sư, chúng ta thấy rằng: nếu vị trí của 2 quái Khôn và Tốn được thay đổi thì mọi con số theo cách lập luận của giáo sư sẽ trùng khớp và cân đối vì tổng độ số đều bằng 15 khi cộng chéo các quái ở vị trí đối xứng trong Hậu thiên Bát quái. Vấn đề này sẽ xin được phân tích và lý giải cụ thể ở phần III: “Văn Minh Văn Lang và bí ẩn của Bát quái”.

Cùng với một cái nhìn cho rằng: Đồ hình Hậu thiên Bát quái thiếu tính hợp lý và bằng một phương pháp với một cách lý giải khác, giáo sư Lê văn Sửu trong cuốn Nguyên lý thời sinh học cổ phương Đông (Nxb Văn Hoá Thông Tin 1996, trang 224) đã viết - xin được tóm lược và trích dẫn như sau:


Hình 33 – Đồ hình Hậu thiên

Qua đồ hình Hậu thiên Bát quái trên đây, chúng ta thấy nó không đại biểu cho tỷ lệ Âm dương trong khí theo phương vị địa bàn, bởi vì nó không có đối đãi Âm dương theo các trục phát triển của tỷ lệ khí ở đủ cả tám hướng mà chỉ mới có sự đối đãi ở bốn hướng chính.
...Nay nếu ta đem hoán đổi hai quái ở hai vị trí đông bắc và tây nam cho nhau, Cấn từ đông bắc chuyển sang tây nam, đem Khôn ở tây nam về đông bắc, chúng ta sẽ thấy được tính chất hợp lý giữa hai cung đều là hành thổ được ở đúng vị trí của mình. Cấn là thổ có thêm Dương trong Âm ở về phía nam là gốc của Dương, Khôn là thổ thuần Âm nằm ở phía bắc là gốc của Âm. Vả lại, nếu Cửu cung là cái dụng của Bát quái ở thời gian, Hậu thiên Bát quái là cái dụng của Bát quái ở trong không gian thì, sau khi ta hoán vị hai cung Cấn và Khôn xong, chúng ta sẽ thấy chu kỳ Cửu cung chín năm chính là sự vận động vũ trụ đem lại ảnh hưởng Âm dương cho môi trường trùng lặp với hai nửa của Hậu thiên Bát quái tính theo hai hệ quy chiếu khác nhau, giữa hai nửa ấy thêm một cung trung mà thành. Lý do để Chu Văn Vương xếp cung Khôn ở tây nam, Cấn ở đông bắc chỉ có thể là ông đã lấy khí thổ của mùa tiết trưởng hạ ở cuối hạ đầu thu tức là trùng phương hướng với phương tây nam, bởi chỉ ở mùa tiết này trong năm là mùa mưa, thổ khí được biểu hiện mạnh mẽ bằng độ ẩm thấp và các bệnh biến theo thấp khí xuất hiện nhiều nhất. Nếu lý do này là chủ yếu và đúng như ý thức của Chu Văn Vương chúng ta lại được có một nhận xét rằng Chu Văn Vương và những cộng sự của ông đã không nhận thức được giá trị của Bát quái trong thời gian theo nhiều năm tức là cửu cung tương ứng với giá trị của Bát quái trong không gian địa bàn, nên các vị đã nhầm mà lấy giá trị của bát quái trong thời gian theo mùa tiết để ứng với giá trị của Bát quái trong không gian địa bàn.
b. Một lý do nữa để nói lên rằng việc xếp đồ hình Hậu thiên Bát quái và Chu Văn Vương đã làm là không có cơ sở đúng, là luận thuyết cho rằng Chu Văn Vương đã căn cứ vào đồ hình Lạc thư để lập nên đồ hình Hậu thiên Bát quái. Sự thật thì nội dung của Lạc thư và nội dung của Hậu thiên Bát quái hoàn toàn không có một khía cạnh liên quan nào để nói rằng đó là cơ sở của nhau.
Hãy nói riêng về Lạc thư một chút, trong các tài liệu có ghi về những lời bàn tới nội dung của Lạc thư từ trước tới nay, tất cả các học giả đều xoay quanh giá trị con số theo sự phân chia chẵn lẻ và mức độ lớn nhỏ của nó. Người ta còn bàn đến nhiều hướng vận hành của số theo mức độ lớn dần, đặc biết là tính chất ma phương theo sự sắp xếp vị trí các số tạo ra. Mỗi người, tùy theo nhận thức của mình mà khai thác các khía cạnh khác nhau và phát triển suy lý khác nhau, nhưng nhìn chung lại, chưa có một tài liệu nào nói đúng về bản chất của các con số và mục đích lập ra đồ hình. Cho nên, đã trải mấy ngàn năm và không biết bao nhiêu ngàn chữ được dùng để bàn về nó, thế mà Lạc thư cùng với Hà đồ vẫn nằm trong đáy bể “huyễn hoặc” mung lung. Chưa hiểu rõ về nó mà lại khẳng định nó là cơ sở của Hậu thiên Bát quái, thật quả là một việc làm không thể chấp nhận được.

Giáo sư cho rằng: Lạc thư là một đồ hình diễn tả độ ẩm và sự tương tác giữa nhiệt độ và độ ẩm môi trường.

...Điều mà trong lịch sử chưa có ai nghĩ về Lạc thư như vừa nêu trên lại chính là nội dung của nó. Tôi xin trình bày nội dung này như sau:
Hãy lấy những số lẻ vốn được coi là số dương để chỉ nhiệt độ = 1, 3, 5, 7, 9 trong đó số tối đa là 9, tối thiểu là 1, trung bình là 5, dưới trung bình là 3 trên trung bình là 7.
Hãy lấy những số chẵn vốn được coi là số Âm để chỉ độ ẩm = 2, 4, 6, 8, trong đó số tối đa là 8, tối thiểu là 2, trung bình là 5, dưới trung bình là 4, trên trung bình là 6.
Theo địa dư khí hậu vùng phương Đông: sự phát triển của nhiệt độ từ tối đa đến tối thiểu là từ phía nam lên phía bắc, do đó số 9 ở phía nam, số 1 ở phía bắc, số 5 ở trung ương. Phía tây và phía đông của trung ương đáng lẽ nhiệt đều là trung bình, nhưng vì phía đông là biển, nhiệt gặp ẩm nhiều cho nên nhiệt gặp bị giảm từ trung bình xuốngthành dưới trung bình, tức là bằng 3, còn như phía tây là trung tâm đại lục địa, có nhiều cao nguyên như nóc nhà của thế giới, khí hậu khô ráo, nhiệt gặp khô ráo thì nhiệt được tăng từ trung bình lên trên trung bình, tức là bằng 7. Đó là sự hình thành vị trí các số dương trong đồ hình Lạc thư; hình 36.


Hình 36

Sự phát triển của độ ẩm từ tối đa đến tối thiểu là từ phía đông sang phía tây, do đó, số 8 ở phía đông, số 2 ở phía tây. Phía nam và phía bắc của trung ương đáng lẽ ẩm đều là trung bình, nhưng vì phía nam nóng nhiều nên ẩm bị giảm từ trung bình xuống thành dưới trung bình, tức là bằng 4, còn như phía bắc là hàn đới, và bắc cực có nhiều núi băng và khí lạnh, ẩm gặp lạnh thì ẩm được tăng từ trung bình lên trên trung bình, tức là bằng 6. Đó là sự hình thành bước đầu vị trí các số Âm trong đồ hình Lạc thư. Chúng ta thật không thể ngờ được rằng tác giả Lạc thư không chỉ dừng ở đó. Do tính đến sự tương tác giữa nhiệt độ và độ ẩm là ẩm vốn ưa lạnh, ghét nóng, cho nên tác giả đã đem con số chỉ độ ẩm tối đa là 8 ở phương Đông chuyển lên vị trí Đông Bắc và sự phát triển của độ ẩm tối đa đến tối thiểu sẽ từ đông bắc xuống tây nam, như vậy, ẩm tối thiểu là 2 ở vị trí tây nam, ẩm trung bình giảm sẽ ở đông nam, là số 4, ẩm trung bình tăng là số 6 ở vị trí tây bắc. Đến đây, sự hình thành vị trí các số Âm trong đồ hình Lạc thư mới ổn định; hình 37, 38.
Đem ghép hai bảng ghi vị trí các số dương biểu thị sự phát triển của nhiệt độ và vị trí các số Âm biểu thị sự phát triển của độ ẩm vào nhau, tác giả đồ hình Lạc thư đã được một trình độ rất cao trong phép lập đồ hình, với những con số rất hạn chế, bằng một cách sắp đặt khéo léo, đã cung cấp cho loài người những nhận thức về quy luật phát triển của hai loại vật chất đại biểu cho khái niệm Âm dương và quy luật tương tác giữa hai loại vật chất đó trong hoàn cảnh cụ thể của địa dư, khí hậu phương Đông. Chúng ta càng khâm phục tác giả Lạc thư bao nhiêu, chúng ta càng đi đến một khẳng định: “Chu Văn Vương không thể là tác giả của đồ hình Lạc thư và đồ hình Lạc thư không hề là cơ sở để lập thành đồ hình Hậu thiên Bát quái”.

Hình 37 – Vị trí số Âm bước đầu

Hình 38 – Vị trí số Âm đã ổn định

Như vậy, giáo sư Lê Văn Sửu cũng cho rằng cần phải đổi vị trí của một số quái trong Hậu thiên. Nhưng theo ông, sự sai lệch này nằm ở vị trí của quái Khôn và Cấn trong Hậu thiên Bát quái. Do đó, cần phải đổi lại vị trí của chúng cho nhau (khác với nhận xét của giáo sư Bùi Văn Nguyên: cần phải đổi vị trí của quái Khôn và Tốn) giáo sư Lê Văn Sửu đã viết:

“Cửu cung là một chu kỳ thời gian 9 năm, mỗi năm ứng với một cung quái. Tên và hình thức ký hiệu cung quái ở cửu cung với ký hiệu cung quái ở Bát quái là giống nhau.
Thứ tự của cửu cung như sau: 1 = Khảm, 2 = Khôn, 3 = Chấn, 4 = Tốn, 5 = Cấn, 6 = Càn, 7 = Đoài, 8 = Cấn, 9 = Ly.(*)

* Chú thích: Số thứ tự của Bát quái mà giáo sư Lê Văn Sửu nêu trên là căn cứ theo số thứ tự của Trần Đoàn lão tổ vào đời Tống sắp đặt Bát quái Hậu thiên vào cửu cung Lạc thư. Nhưng bổ sung thêm quái Cấn vào trung cung vốn được ứng dụng trong khoa thuật phong thủy. Điều này xin lưu ý bạn đọc và sẽ được trình bày rõ hơn ở phần sau.

Nếu ta đem thay đổi vị trí của hai cung Cấn và Khôn trong Hậu thiên Bát quái, Cấn từ đông bắc xuống tây nam,Khôn từ tây nam sang đông bắc, chúng ta sẽ có được một giả thiết như sau: Cửu cung chính là hai nửa của Hậu thiên Bát quái vận động theo hai hệ quy chiếu ngược chiều nhau, giữa hai nửa đó được chen thêm một cung hành Thổ ở trung tâm chu kỳ là cung Cấn.
Hãy so sánh hai đồ hình Hậu thiên Bát quái và Hậu thiên Bát quái đã thay đổi vị trí Cấn, Khôn; hình 27, 28.

Hình 27 - Hậu Thiên Bát Quái

Hình 28 - Hậu Thiên Bát Quái đã thay đổi

Nay đem Hậu thiên Bát quái đã thay đổi, thêm trung cung và vẽ chiều vận động của hai nửa ngược nhau, chúng ta sẽ có: đồ hình của chu kỳ cửu cung; hình 29.

Hình 29 - Chu kỳ cửu cung

Như vậy, qua những phần trích dẫn nhận định của giáo sư Lê Văn Sửu, Bùi Văn Nguyên và học giả Nguyễn Hiến Lê ở trên, chúng ta nhận thấy rằng cả ba vị đều nhất trí cho rằng đồ hình Hậu thiên Bát quái sai lệch. Điều rất đáng lưu ý trong đoạn trích dẫn của giáo sư Lê Văn Sửu là: Giáo sư cho rằng Lạc thư không phải là cơ sở của Hậu thiên Bát quái. Nhưng giải pháp hiệu chỉnh của hai học giả này khác nhau và sự minh chứng đều chưa đủ sức thuyết phục. Tuy nhiên, sẽ là một thiếu sót và là một sự dẫn chứng không hoàn chỉnh nếu không trích dẫn nhận định của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Hoàng Phương. Giáo sư Hoàng Phương cho rằng kết cấu đồ hình Hậu thiên Bát quái có cơ sở khoa học. Giáo sư đã viết trong tác phẩm Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai (Nxb Giáo dục Hà Nội 1996, trang 334) như sau:

Vị trí các quẻ trong bát quái đồ

Thông thường một câu hỏi được đặt ra: Tại sao Văn Vương lại sử dụng một Bát quái đồ – gọi là Hậu thiên Bát quái đồ – không được hoàn toàn đối xứng như Tiên thiên Bát quái đồ của Phục Hy?
Chúng ta cần nhớ rằng nhân thể chúng ta không đối xứng, chẳng hạn là quả tim không nằm ngay chính giữa cơ thể! Thực tiễn sinh học và xã hội không bao giờ đối xứng hoàn toàn cả! Theo ý chúng tôi, Văn Vương có lý khi gạt bỏ tính đối xứng hoàn toàn của Bát quái đồ Phục Hy.

Đến trang 371 (sách đã dẫn), giáo sư Hoàng Phương tiếp tục giải thích và chứng minh vị trí các quẻ trong Bát quái như sau:

Vị trí các quẻ trong bát quái

Vị trí các quẻ trong Bát quái đồ Phục Hy là khá đơn giản, do sơ đồ này mang tính đối xứng rất cao. Nhưng tình hình lại khác khi nói đến Bát quái đồ Văn Vương, do tính đối xứng thấp hơn.
Nhưng muốn chứng minh tính hợp lý của Bát quái Đồ này, ngay khi tính đối xứng không còn cao nữa, cần dựa vào các định nghĩa sau:

A– Hào số và quẻ số

Như chúng ta biết, mỗi quẻ trong Bát quái đồ Văn Vương có 3 hào, các hào có thể tính theo thứ tự dưới lên trên, hào dưới cùng gọi là hào 1…, hào trên cùng gọi là hào 3.

1. Hào số

Cái gọi là hào số định nghĩa như sau:
– Hào Âm thứ nhất (nếu có) có hào số bằng 1,
– Hào Âm thứ hai (nếu có) có hào số bằng 2,
– Hào Âm thứ ba (nếu có) có hào số bằng 4,
– Tất cả các hào Dương đều không có hào số.

Có thể vẫn định nghĩa như trên, nhưng hoán vị hào Âm và hào Dương với nhau. Về sau này, ta theo định nghĩa thứ nhất, những kết quả thu được với định nghĩa thứ hai được ghi trong dấu ngoặc.

2. Quẻ số

Tổng tất cả các hào số cộng với 1 (do trong Triết cổ Đông phương không có số 0) trong một Quẻ gọi là Quẻ số của Quẻ đó.
Với các định nghĩa trên ta thu được bảng sau:


Bảng 51a. Bảng các quẻ số và “Họ nội”, họ ngoại trong độn giáp

Bây giờ ta chú ý rằng:
– Các quẻ Đoài, Kiền và Khảm là tương ứng với Kim và Thủy, tức là có Âm tính theo cấu trúc Tứ Tượng.
– Các quẻ Chấn, Tốn và Ly là tương ứng với Mộc và Hỏa, tức là số Dương tính theo cấu trúc Tứ Tượng,
– Các quẻ Khôn và Cấn là tương ứng với Thổ, Trung tính.
Nếu ta cộng quẻ số tất cả các quẻ cùng tính (Âm, Dương và Trung) thì sẽ thấy rằng tổng các quẻ số trong mỗi loại đều bằng nhau và bằng 12 (Hình 114).
Như vậy, đã có một lý do về trình tự các quẻ của Bát quái đồ Văn Vương khi kết hợp với tính Âm, Dương và Trung. (Trong hình 114, các số trong dấu ngoặc là tương ứng với cách tính quẻ số dựa vào hào Dương).
Bây giờ chúng ta chuyển sang một lý do khác.
Trong kinh Dịch, có sự phân loại nam, nữ như sau (Bảng 47):
–TỐN: THIẾU NỮ, LY: TRUNG NỮ, ĐOÀI: TRƯỞNG NỮ (HỌ NGOẠI),
–CẤN: THIẾU NAM, KHẢM: TRUNG NAM, CHẤN: TRƯỞNG
NAM (HỌ NỘI).
Ta thêm vào sự phân loại trên:
–KIỀN XEM LÀ CHA (CHA TRỜI), (CHỦ HỌ NỘI),
–KHÔN XEM LÀ MẸ (MẸ ĐẤT), (CHỦ HỌ NGOẠI).


Hình 114. Hỉnh trỏ sự phận phối các quẻ trong bát quái đồ
văn vương theo Âm, Dương trung và các họ nội, ngoại.

Như thế ta có hai cặp con Nội, Ngoại (sẽ được gặp lại trong học thuyết Thái Ất và trong kinh Dịch). Nếu cộng các quẻ số thuộc hai họ Nội, Ngoại thì chúng ta được hai số bằng nhau, bằng 18.
Đó là thêm một số lý do để hiểu tại sao Văn Vương lại chọn một cách bố trí các quẻ một cách “thiếu đối xứng” như thế!
Cần nhớ lại là quẻ Khảm có mã số bằng 1, để hình dung cho đầy đủ lý do tồn tại của Bát quái đồ Văn Vương.

Qua những ý kiến được trích dẫn và trình bày ở trên, chứng tỏ rằng: Mặc dù sự ứng dụng của kinh Dịch đã tồn tại – theo như cổ thư chữ Hán – trên 5000 năm. Nhưng vì thiếu một hệ thống lý thuyết căn bản, nên ngay cả những vấn đề căn nguyên của kinh Dịch vẫn hết sức mơ hồ. Qua dẫn chứng ở trên, các nhà nghiên cứu Dịch học, cụ thể là giáo sư Bùi Văn Nguyên và giáo sư Lê Văn Sửu đều phát hiện ra sự bất hợp lý của cấu trúc đồ hình Hậu thiên Bát quái, nhưng lại hiệu chỉnh nó theo cái nhìn riêng rất khác nhau. Điều này chứng tỏ một cách rõ nét: Do kinh Dịch thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết căn bản; bởi vậy những nhà nghiên cứu kinh Dịch chỉ có thể tìm hiểu trên cơ sở sự tương quan hợp lý từ những vấn đề còn lại của nó. Và cho đến tận ngày hôm nay, những nhà Lý học cổ kim cũng chưa thỏa mãn trong việc tìm hiểu nội dung của kinh Dịch.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11




Bài viết cùng chuyên mục

Chương II: Tóm tắt nội dung và những ký hiệu căn bản của kinh dịch trong cổ thư chữ Hán. Kinh Dịch được truyền lại từ đời Hán là bản Chu dịch, gồm có ...

Phần I: Lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Chương I: Tóm lược lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán Tương truyền vào thời ...

Phần dẫn nhập: Cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch không nhằm giới thiệu nội dung của kinh Dịch theo cách hiểu phổ biến từ trước đến nay qua cổ thư chữ ...

Lời nói đầu: Trong những sách cổ của nền văn minh Đông phương, người ta thường nói đến những phương pháp ứng dụng được thực hiện với một thời gian ...

Lời giới thiệu: Say sưa miệt mài trên con đường tìm hiểu về nền văn hóa Á Đông, từ tác phẩm “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại” rồi ...

Bài viết này tôi tóm lược lại những điểm chính yếu trong tác phẩm Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc của tôi (phát hành vào dịp Tết Đinh Hợi). Ở đây tôi ráng ...

Kinh Dịch là thành tựu văn hóa kiệt xuất của phương Đông. Từ hơn 2000 năm nay, thế giới thừa nhận đó là sản phẩm của người Trung Hoa. Khoảng 30 năm lại ...

Ngôn ngữ của Dịch chỉ có hai ký tự: một hào âm và một hào dương. Hào dương là một vạch liền (-), hào âm là một vạch đứt (--). Đó là hai ký hiệu biểu ...

Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về Kinh Dịch, trong số đó có một công trình đặt lại vấn đề " tác quyền" của bộ Kinh ...

Dù thế nào đi nữa thì chúng ta cũng vô cùng biết ơn người Trung Hoa anh em có công cực kỳ lớn lao trong việc tiếp thu sách bói Liên Sơn, Quy Tàng từ tổ tiên ...