Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 3

Ngày đăng: Thứ ba 17/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Về thời điểm xuất xứ.

Theo sách Chu Dịch và dự đoán học (Nxb Văn hóa Hà Nội 1995 – Thiệu Vĩ Hoa – trang 27) viết:

Thời gian hình thành Bát quái và 64 quẻ khoảng đời nhà Hạ. Điều đó có “Ngọc Hải” dẫn chứng từ “Sơn hải kinh” như sau: “Phục Hi được Hà đồ, do đó người Hạ nói “Liên sơn”; Hoàng đế được Hà đồ, do đó người Thương nói “Quy Tàng”. Liệt Sơn thị được Hà đồ, do đó mà người Chu nói “Chu dịch”. “Dịch tán”, “Dịch luận” của Trịnh Huyền nói : “Hạ viết “Liên Sơn”, Ân viết “Quy Tàng”, Chu viết “Chu dịch”.
Trong “Chu lễ” có ghi: Cung Xuân đại bốc “nắm cả phép của ba bộ dịch là “Liên sơn”, “Quy tàng”, “Chu dịch”. Quái của các kinh đó đều là 8, quẻ đều là 64”. Còn nói: cuối thời kỳ đồ đồng ở An Dương đã xuất hiện những dấu hiệu Bát quái (trang 77 sách “Lịch sử chữ viết trên xương của Trung Quốc”). Do đó có thể thấy thời kỳ hình thành Bát quái và 64 quẻ nên vào đời nhà Hạ. Còn những người đời sau nói Văn Vương đã làm lại 64 quẻ, điều đó chắc không đúng, tuy nhiên Văn Vương đã sắp xếp lại cho nó chỉnh hơn thì rất có thể.
Hai quyển sách “Liên sơn”, “Quy tàng” đã mất từ lâu, quyển sách người đời sau nhìn thấy chỉ là “Kinh Dịch”. Nhưng thời kỳ ra đời của kinh Dịch từ xưa tới nay vẫn còn bàn cãi mãi. Căn cứ kết quả khảo cứu của hơn ba mươi năm nay thì có ba loại ý kiến.

1. Kinh Dịch ra đời thời Xuân Thu. Quách Mạc Nhược nói: Quan niệm trời đất đối lập xuất hiện rất muộn trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc. Những văn tự đời nhà Chu không có vết tích của Bát quái, thậm chí không có chữ “địa”; những chữ như “Càn, Khôn” trong sách cổ mãi về sau mới xuất hiện… đủ thấy “Kinh Dịch” không thể ra đời trước thời Xuân Thu.

2. Kinh Dịch ra đời đầu thời Tây Chu. Trương Đại Niên, căn cứ câu chuyện trong hào từ quẻ như “táng ngưu ư dịch”, “táng dương ư dịch”, “Cao tôn phiệt quỷ phương”, “Đế Ất quy muội”, “kỳ tử chi minh di” v.v… đều là các câu chuyện của nhà Thương và Tây Chu. Những sách về sau của Chu Thành Vương, không viện dẫn đến, nên suy ra kinh Dịch thành sách không thể sau đời Thành Vương.

3. Kinh Dịch thành sách vào thời kỳ giao thời nhà Ân và nhà Chu. Kim Cảnh Phương v.v… cho rằng: Kinh Dịch là tác phẩm giao thời giữa nhà Ân và nhà Chu. Họ khẳng định “quái xuất ư thi”. Thi sử đời xưa dần dần được tổng kết lại qua nhiều bài ghi chép hoạt động của chiêm thi, qua sàng lọc, chỉnh lại mà thành “Kinh Dịch”. Có học giả còn từ tiến trình lôgíc phát triển tư tưởng của Trung Quốc và từ trong mâu thuẫn xã hội các đời nhà Ân, nhà Chu mà nghiên cứu các niên đại thành sách của kinh Dịch, họ cho rằng đó là thời kỳ giao tiếp giữa nhà Ân và nhà Chu.

Tác giả của kinh Dịch

Ngoài những ý kiến khác nhau về thời điểm ra đời của kinh Dịch, ngay cả vấn đề tác giả của kinh Dịch, những nhà nghiên cứu cũng có những ý kiến không thống nhất:

Tác giả Tiên thiên Bát quái

Về đồ hình Tiên thiên Bát quái – mặc dù xuất hiện vào đời Tống – nhưng được coi là do vua Phục Hy làm ra hầu như không có ai phản bác. Bởi vì, người công bố đồ hình này là ông Thiệu Khang Tiết cũng thừa nhận tác giả của nó là ngài Phục Hy và được bảo chứng ở đoạn sau đây trong Hệ từ hạ chương II của Chu Dịch:

Ngày xưa họ Bào Hy cai trị thiên hạ, ngẩng lên thì xem tượng ở trên trời, cúi xuống thì nhìn hình ở dưới đất, xem cái vẻ sắc của chim muông, cùng những tiện nghi của mặt đất, gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy ở mọi vật; do đó mới làm ra Bát quái để cảm thông cái đức của thần linh và để phân loại cái tính tình của muôn vật.

Tuy nhiên sự việc cũng không đơn giản như vậy, cũng có học giả đặt vấn đề ý nghĩa của hai đồ hình này qua tên gọi của nó. Đoạn trích dẫn sau đây trong sách Kinh Dịch – Đạo của người quân tử (Nguyễn Hiến Lê – sách đã dẫn, trang 28) chứng tỏ điều này:

Hình I gọi là Tiên thiên Bát quái, hình II là Hậu thiên Bát quái. Hai tên đó không có trong Kinh Dịch, hiển nhiên là do người đời sau, hoặc một đời Hán, hoặc Thiệu Khang Tiết đặt ra.
Tiên thiên Bát quái có nghĩa là Bát quái tượng trưng vũ trụ (thiên) hồi đầu, Hậu thiên Bát quái tượng trưng vũ trụ hồi sau. Hồi đầu là hồi nào? Hồi sau là hồi nào? Không ai biết chắc. Có người giảng hồi đầu là hồi vũ trụ còn vô hình, hồi sau là hồi vũ trụ đã hình thành. Vô lý: khi vũ trụ còn vô hình thì sao đã có núi, có chằm?
Có người lại giảng Tiên thiên Bát quái là những hiện tượng xảy ra trên các thiên thể (nghĩa là khi vũ trụ đã thành hình), còn Hậu thiên là những hiện tượng ở trên mặt đất (Bửu Cầm – Tìm hiểu kinh Dịch – Saigon 1957). Vậy là trên các thiên thể cũng có trời, có đất, có núi, chằm... như trên trái đất?
Có người đem thiên văn học của phương Tây mà giảng Tiên thiên Bát quái, chẳng hạn bảo Càn gồm ba hào dương, toàn là dương khí, sáng rực rỡ chính là một biển lửa, một định tinh, Khôn có ba hào Âm, toàn khí Âm, đen lạnh, “có thể ví các sao đen tối của nhà thiên văn học Emile Belot”... (Bùi Thị Bích Trâm, Thiên Văn, Huế 1942. Nguyễn Duy Cần dẫn trong Dịch học Tinh hoa – Saigon 1973).
Từ một số học giả đời Hán dùng kinh Dịch để giảng về thiên văn, về nguồn gốc vũ trụ, nhất là từ khi có hai hình Tiên thiên và Hậu thiên Bát quái, chắc đã có nhiều người căn cứ vào hai hình ấy, rồi vào hai hình Hà đồ, Lạc thư mà lập ra những thuyết mới sau này khoa thiên văn của phương Tây có một phát kiến nào mới thì tất sẽ có những người giảng lại, Tiên thiên và Hậu thiên Bát quái cho hợp với những phát kiến mới. Chỉ có tám hình hai mươi bốn vạch liền và đứt, cho nên rất dễ gợi sự tưởng tượng của con người.

Tác giả Hậu thiên Bát quái

Đồ hình Hậu thiên Bát quái, căn nguyên của 64 quẻ thuộc hệ thống Hậu thiên cũng được Thiệu Khang Tiết công bố vào đời Tống, nhưng ông cũng thừa nhận tác giả của nó là Chu Văn Vương làm ra. Đây cũng là một nhận thức phổ biến của hầu hết các nhà nghiên cứu Dịch học từ trước đến nay. Nhưng đến đời nhà Mãn Thanh các nhà nghiên cứu căn cứ theo phương pháp khảo chứng học cho rằng: Dịch kinh không phải của Chu Văn Vương, Chu Công. Đến thời Dân Quốc, Thôi Đông Bích và nhiều người khác cũng đồng nhận xét như trên. Gần đây, Quách Mạc Nhược trong tác phẩm Chu Dịch chế tác chi thời đại cũng cho rằng: kinh Dịch không thể xuất hiện sớm hơn thời Xuân thu và Dịch truyện còn xuất hiện sau đó (*).

* Chú thích: Theo tài liệu chép tay của lương y Lê Hồng Sơn tại thư viện Viện nghiên cứu Đông y Hà Nội, “Những nét cơ bản về kinh Dịch”, do giáo sư Cao Xuân Huy trình bày.

Tác giả trùng quái

Việc trùng quái để tạo ra 64 quẻ thì những nhà nghiên cứu từ đời Hán trở lại đây cũng có những ý kiến khác nhau:
1– Theo Tư Mã Thiên đời Tiền Hán thì cho rằng do vua Chu Văn Vương trùng quái.
Tư Mã Thiên căn cứ vào việc vua Văn Vương bị giam ở ngục Dữu Lý và đã trùng quái trong thời gian này.
2– Theo Trịnh Huyền đời Hậu Hán cho rằng do vua Thần Nông trùng quái.
Trịnh Huyền căn cứ vào đoạn văn trong Hệ từ hạ viết: “Họ Bào Hy mất họ Thần Nông lên thay, lấy tượng quẻ Ích để làm cày bừa và lấy tượng quẻ Phệ Hạp định thể chế họp chợ”. Quẻ Ích và quẻ Phệ Hạp là hai quẻ trùng quái.
3– Theo Tôn Thịnh đời Tấn cho rằng do vua Đại Vũ trùng quái.
Tôn Thịnh căn cứ vào câu trong sách Chu Lễ Tam Dịch Chú của
Trịnh Huyền nói: “Nhà Hạ là Liên Sơn, nói họ Liên Sơn lấy việc trùng Cấn làm đầu” nên nhận việc trùng Cấn là việc của vua Đại Vũ.
4– Theo Ngu Phiên, Vương Bật đời Hán thì do vua Phục Hy trùng quái.
Vương Bật, Ngu Phiên thì căn cứ vào chương I Hệ từ hạ có câu: “Khi Bát quái thành hàng, tượng ở ngay trong đó; nhân đấy mà trùng lên, thì hào cũng đã có trong đó”. Do đó cho rằng vua Phục Hy tạo ra đồ hình Bát quái thì trùng quái ngay.
Với những ý kiến trên đây, nhà nghiên cứu Dịch học Việt Nam là Thu Giang Nguyễn Duy Cần cho rằng:

Theo 4 giả thuyết trên đây ta không thấy giả thuyết nào đứng vững, vì không có chứng cứ xác thực. Chỉ có giả thuyết thứ nhất và thứ tư là được truyền tụng. Vậy, ta hãy tạm nhận như thế: có thể do vua Phục Hy hoặc Văn Vương sáng chế, không sao.

(Dịch học tinh hoa – Nxb T/p HCM – 1992 – Thu Giang – Nguyễn Duy Cần)
Nhận xét của học giả Nguyễn Duy Cần cũng là nhận xét của hầu hết các nhà nghiên cứu về Dịch học từ trước đến nay.

Tác giả của Soán từ và Hào từ

Có hai giả thuyết:
1)– Giả thuyết này do Mã Dung và Lục Tích thời Hán đặt ra. Thuyết này phù hợp với sự tóm lược về sự phát triển của kinh Dịch đã trình bày ở trên, được lưu truyền đến ngày nay và cho rằng Soán từ là của Chu Văn Vương, còn Hào từ là của Chu Công làm ra.
2)– Thuyết này do Trịnh Huyền (cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc) cho rằng Soán từ và Hào từ đều do Chu Công làm ra.

Tác giả của thập Dực

Có 3 thuyết sau đây:
1– Thuyết của Hán thư: Hán thư lại chia làm hai phái Cổ văn và Kim văn. Phái Cổ văn cho rằng thập Dực là do Khổng tử làm ra. Phái Kim văn phản bác cho rằng Khổng tử không quan hệ gì đến thập Dực mà do người đời sau Khổng tử viết.
2– Thuyết của những người theo Sử ký: thập Dực là do những người đời sau Khổng tử viết.
3– Thuyết của học giả Nhật Bản Đông Điền Nhất Đường: Dịch truyện viết vào khoảng đời nhà Tần.

Đại Kiều Chính Thuận – một học giả người Nhật nói: “thập Dực do Khổng Tử viết, chỉ thấy có Tư Mã Thiên trong Sử ký nói đến mà thôi. Các sách Kinh truyện (của Nho giáo cổ trước Hán), không thấy trưng dẫn. Vì thế Âu Dương Tu (một học giả thời hậu Hán) mới sinh nghi, các học giả sau này đua nhau biện bác… Soát lại lời văn của thập Dực, quyết không phải của một người làm ra…”. Đành thế nhưng Thân Vương tử có nói: “Lời văn Hệ Từ, tiên Nho nhiều người cũng đã nghi ngờ không phải do Khổng tử làm ra, nhưng ở trong đó tác giả Dịch Truyện đã phát minh được mọi lẽ cương yếu của Dịch, chỉ vẽ cho người ta ứng dụng các phép tắc của Dịch một cách gãy gọn, vỡ vạc, rõ ràng có “điều”, có “lý”, vậy nếu không phải ở một đầu óc đã có đầy đủ hoàn toàn được cái học Dịch, quyết không thể nào nói rõ ra được như thế”.
Tịnh Mộc Chính Thiều (người Nhật) nói:
“Thập Dực truyện là của Khổng tử, các hậu Nho thường có lời bàn ra nói vào. Tôi đọc Hệ Từ, thường thấy hai chữ “tử viết” thì cũng nghi không chắc Khổng tử đã thân hành viết ra. Nhưng rồi nghĩ kỹ lại, xét rõ lại, thấy ở Hệ từ, tác giả đã xiển phát được nhiều lẽ tinh vi rõ ràng hết sức, đã ghi lại được đầy đủ dấu vết của Âm dương Tạo Hoá, cùng những mầu nhiệm của Quỷ Thần, của Trời Đất, của Nhân Loại, không có một cái nào là chẳng khải phát một cách rõ ràng để chỉ vẽ cho người đời sau. Nếu chẳng phải việc làm của một bậc đại thánh nhân thì ai đã đủ tài sức làm nổi ? Nếu lại đem so sánh lời nói của các bậc thầy như Tử Tư, Mạnh tử thực có thể làm “biểu lý” cho nhau được”(*).

* Chú thích: Dịch học tinh hoa – Thu Giang Nguyễn Duy Cần – Nxb TP Hồ Chí Minh – 1992.

Về ý nghĩa chữ Chu trong Chu Dịch

Xin bạn đọc tham khảo đoạn sau đây trong Kinh Dịch – Đạo người quân tử (Nguyễn Hiến Lê – sách đã dẫn):

Có hai thuyết:
a) Một thuyết, đại biểu là Trịnh Huyền (đời Hán), bảo Chu đó không có nghĩa là nhà Chu, mà có nghĩa là hết một vòng rồi trở về (Chu nhi phục thủy), là chu lưu trong vũ trụ, là phổ cập. Chu Dịch có nghĩa là: đạo dịch, phổ biến khắp vũ trụ; là hết một vòng rồi trở về. Trịnh Huyền lấy lẽ rằng ba sách Dịch đời Chu: Liên Sơn, Qui Tàng, Chu Dịch, trên hai sách trên không chỉ thời đại, thì tên cuốn cuối cũng không chỉ thời đại (để khỏi rườm, chúng tôi chỉ tóm tắt như vậy thôi).
b) Một thuyết nữa, đại biểu là Khổng Dĩnh Đạt (đời Đường) bác lẽ đó, bảo người ta gọi hai sách trên là Liên Sơn, Qui Tàng, không thêm chữ dịch ở sau, mà Chu dịch là có chữ dịch tức là chữ dịch này không thể tách khỏi chữ Chu được mà như vậy Chu dịch phải có nghĩa là dịch của đời nhà Chu.
Lý luận của Trịnh và Khổng đều không vững, và chúng ta chỉ cần biết rằng ngày nay mọi người đều hiểu Chu là đời Chu, mà tên Chu dịch xuất hiện sau Khổng tử, Mạnh tử vì trong Luận ngữ, Mạnh tử, chỉ thấy dùng tên Dịch thôi, không dùng tên Chu dịch.
Một cuốn sách rất quan trọng mà từ nguồn gốc đến chúng tôi, thời đại xuất hiện, ý nghĩa của tên sách đều gây nhiều thắc mắc, mấy nghìn năm sau chưa giải quyết được; đó cũng là một lẽ khiến cho Chu dịch thành một kỳ thư.

Trên đây là tóm lược và trích dẫn những ý kiến khác nhau tiêu biểu về quá trình hình thành và phát triển của kinh Dịch mà hầu hết các sách nghiên cứu hiện đại về Kinh Dịch đều ghi nhận. Những ý kiến phản bác, kể cả những ý kiến thừa nhận diễn biến lịch sử Dịch học theo cổ thư chữ Hán đều thiếu những luận cứ chặt chẽ, như phần trích dẫn giới thiệu với bạn đọc ở trên. Nhưng những ý kiến này dù mâu thuẫn với nhau và hết sức mơ hồ, vẫn mặc nhiên thừa nhận kinh Dịch là sản phẩm của nền văn minh Hoa Hạ.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Chương II: Tóm tắt nội dung và những ký hiệu căn bản của kinh dịch trong cổ thư chữ Hán. Kinh Dịch được truyền lại từ đời Hán là bản Chu dịch, gồm có ...

Phần I: Lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Chương I: Tóm lược lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán Tương truyền vào thời ...

Phần dẫn nhập: Cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch không nhằm giới thiệu nội dung của kinh Dịch theo cách hiểu phổ biến từ trước đến nay qua cổ thư chữ ...

Lời nói đầu: Trong những sách cổ của nền văn minh Đông phương, người ta thường nói đến những phương pháp ứng dụng được thực hiện với một thời gian ...

Lời giới thiệu: Say sưa miệt mài trên con đường tìm hiểu về nền văn hóa Á Đông, từ tác phẩm “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại” rồi ...

Bài viết này tôi tóm lược lại những điểm chính yếu trong tác phẩm Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc của tôi (phát hành vào dịp Tết Đinh Hợi). Ở đây tôi ráng ...

Kinh Dịch là thành tựu văn hóa kiệt xuất của phương Đông. Từ hơn 2000 năm nay, thế giới thừa nhận đó là sản phẩm của người Trung Hoa. Khoảng 30 năm lại ...

Ngôn ngữ của Dịch chỉ có hai ký tự: một hào âm và một hào dương. Hào dương là một vạch liền (-), hào âm là một vạch đứt (--). Đó là hai ký hiệu biểu ...

Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về Kinh Dịch, trong số đó có một công trình đặt lại vấn đề " tác quyền" của bộ Kinh ...

Dù thế nào đi nữa thì chúng ta cũng vô cùng biết ơn người Trung Hoa anh em có công cực kỳ lớn lao trong việc tiếp thu sách bói Liên Sơn, Quy Tàng từ tổ tiên ...