Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 2

Ngày đăng: Thứ bảy 14/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Hệ thống ký hiệu của kinh Dịch

Hệ thống ký hiệu của kinh Dịch được truyền cho tới nay gồm hai hệ thống chính là:
1) Hệ thống Hy Dịch tức kinh Dịch của Phục Hy có nguồn gốc từ đồ hình Tiên thiên Bát quái.
2) Hệ thống Chu Dịch, có nguồn gốc từ đồ hình Hậu thiên Bát quái.
Đồ hình ký hiệu của hai hệ thống ký hiệu này như sau:

Tiên thiên Bát quái và ký hiệu 64 quẻ Hy Dịch

Đồ hình Tiên thiên Bát quái và hệ thống Hy Dịch được coi của do vua Phục Hy (nhưng chỉ phát hiện và lưu truyền từ đời Tống), bắt đầu bằng hai ký hiệu căn bản sau đây:

Từ hai ký hiệu này, cũng theo cổ thư chữ Hán thì vua Phục Hy đã vạch ra 8 quái gọi là Tiên thiên Bát quái, mỗi quái gồm 3 vạch (liền hoặc đứt ) có một trình tự phát triển từ dưới lên, được trình bày theo đồ hình sau đây trong Chu Dịch và dự đoán học (sách đã dẫn, trang 15).

Đồ hình kết cấu trình tự Bát quái trên đây được phổ biến trong
các sách kinh Dịch nói chung.

Đồ hình Tiên Thiên bát quái của vua Phục Hy

Tám quái này lần lượt có tên gọi là: 1-Càn, 2-Đoài, 3-Ly, 4- Chấn, 5-Tốn, 6-Khảm, 7-Cấn, 8-Khôn, được sắp xếp theo đồ hình có thứ tự như trên.
Cổ thư chữ Hán cho rằng: vua Phục Hy đã dựa theo Hà đồ phát hiện trên sông Hoàng Hà để sắp xếp Tiên thiên Bát quái, như đã trình bày ở trên. Sự liên quan giữa Bát quái Tiên thiên và Hà đồ được các cổ thư chữ Hán từ đời Tống minh họa như sau:

Đồ hình tương quan Hà đồ và Tiên Thiên bát quái
(Vẽ theo Kinh Dịch với Vũ trụ quan Đông phương)

Trên cơ sở vị trí của Bát quái Tiên thiên hình thành một hệ thống 64 quẻ gọi là Hy Dịch. Những quẻ này do 8 quái lần lượt kết hợp với nhau theo một nguyên tắc nhất định và hình thành 64 quẻ kép theo thứ tự có ký hiệu và tên gọi như sau:


Hệ thống 64 quẻ Hy Dịch trình bày ở trên được trích dẫn trong sách Kinh Dịch Phục Hy (Nxb Khoa học Xã hội 1997 – Giáo sư Bùi Văn Nguyên). Thứ tự trong sách đã dẫn, theo số ký hiệu của nhà Toán học người Đức Leibniz, đánh số từ 0 đến 63. Người viết sửa lại từ 1 đến 64.

Nguyên tắc kết hợp 64 quẻ của Hy Dịch

Nguyên tắc kết hợp 64 quẻ của Hy Dịch là lần lượt từng quái kết hợp với 8 quái khác theo số thứ tự để hình thành 64 quẻ. Sự kết hợp này được trình bày như sau:

Số thứ tự của Tiên Thiên bát quái

@ Quẻ thứ nhất: quái thứ 1 Càn làm Hạ quái lần lượt kết hợp với 8 quái kia làm thượng quái theo thứ tự từ 1 đến 8.
@ Tiếp tục đến quẻ thứ hai: quái thứ 2 Đoài làm Hạ quái, cũng lần lượt kết hợp với 8 quái kia làm thượng quái theo số thứ tự từ 1 đến 8... trình tự đến hết 64 quẻ.
Ý nghĩa của hệ thống 64 quẻ kép của Hy Dịch được ông Thiệu Khang Tiết sử dụng vào việc dự đoán tương lai thể hiện qua phương pháp dự đoán của ông (sẽ trình bày rõ hơn ở phần sau).

Hậu thiên Bát quái và hệ thống 64 quẻ Chu Dịch

Theo truyền thuyết Trung Hoa: vua Đại Vũ đi trị thủy ở sông Lạc bắt được một con rùa thần trên mai có ghi đồ hình Lạc thư, như đã trình bày ở phần trên. Sau vua Phục Hy khoảng gần 3000 năm, đến đời Chu Văn Vương – theo cổ thư chữ Hán thì vua Chu Văn Vương bị giam ở ngục Dữu Lý 7 năm (có sách chép 3 năm). Trong thời gian bị giam, ông đã sửa lại vị trí các quẻ trong Bát quái của Phục Hy thành một đồ hình Bát quái mới gọi là Hậu thiên Bát quái, căn cứ theo đồ hình Lạc thư. Vị trí phương vị của Hậu thiên Bát quái phối hợp với đồ hình Lạc thư theo cổ thư chữ Hán được công bố vào đời Tống như sau:

Đồ hình tương quan Lạc thư và Hậu Thiên bát quái
(Vẽ theo Kinh Dịch với Vũ trụ quan Đông phương)

Để bạn đọc tiện theo dõi, xin được trình bày sự kết hợp Tiên thiên Bát quái với Hà đồ và Hậu thiên Bát với Lạc thư theo cổ thư chữ Hán qua đồ hình cửu cung như sau:

Cửu cung Hà đồ và Tiên thiên bát quái
(Đã xoay 180o cho phù hợp với phương vị bản đồ hiện đại)

Cửu cung Lạc thư và Hậu thiên bát quái
(Đã xoay 180o cho phù hợp với phương vị bản đồ hiện đại)

Trên cơ sở đồ hình Hậu thiên Bát quái, vua Chu Văn Vương đã sắp xếp một hệ thống mới 64 quẻ gọi là Chu Dịch. Bảng kinh Dịch nổi tiếng hiện còn lưu hành, chính là bản Chu Dịch được coi là của Chu Văn Vương. Dưới đây là đồ hình thứ tự 64 quẻ của Chu Văn Vương.


Tóm lược nội dung phần kinh văn Chu Dịch

Trên thực tế bản Chu Dịch truyền lại từ thời Hán chỉ có hệ thống 64 quẻ được coi là của Chu Văn Vương và hệ thống kinh văn gồm: Soán từ; Hào từ và Thập dực. Đồ hình Tiên thiên, Hậu thiên Bát quái cũng như đồ hình Hà đồ – Lạc thư là do các nhà lý học đời Tống công bố (tức là hơn 1000 năm sau kể từ khi các học giả thời Hán nói tới những đồ hình này) như đã trình bày ở trên.
Về phần kinh văn thuộc hệ thống Chu dịch lần lượt có nội dung như sau:

I– Soán từ được coi là của Chu Văn Vương soạn nhằm giải thích ý nghĩa của từng quẻ trong hệ thống 64 quẻ Hậu thiên.

II– Hào từ được coi là của Chu Công Đán soạn nhằm giải thích ý nghĩa từng “hào” trong quẻ gọi là “Hào từ”. Do cấu trúc quẻ gồm 6 vạch (liền hoặc đứt) mỗi vạch gọi là “hào”. Thứ tự 6 hào được tính từ dưới lên. Hào đầu tiên gọi là hào sơ, hào thứ hai gọi là hào nhị… Hào trên cùng thay vì hào lục thì gọi là hào thượng. Nếu hào là vạch liền thì bên cạnh từ chỉ số đếm gọi là “cửu”; thí dụ: “Sơ cửu” có nghĩa là hào đầu tiên là Dương (*). Nếu hào là vạch đứt thì bên cạnh từ chỉ số đếm gọi là “lục”, thí dụ: Sơ lục, có nghĩa là hào đầu tiên là Âm (*). Tiếp theo đó là cửu nhị (hoặc lục nhị) có nghĩa là hào 2 là Dương (cửu) hoặc Âm (lục). Tùy theo vị trí của hào trong toàn ý nghĩa của quẻ, có lời diễn giải ý nghĩa của từng hào gọi là “Hào từ”.

* Chú thích: Ở phần này vẫn tạm dùng khái niệm “hào âm” và “hào dương” vì các sách quen dùng, đúng ra phải gọi là: “hào thuộc dương” hoặc “hào thuộc âm”. Trong kinh văn chỉ dùng từ “cửu” và “lục”, khái niệm “hào âm” và “hào dương” là do các nhà nghiên cứu đời sau đặt ra.

Đồ hình thuyết minh tên gọi các hào trong quẻ

III– Thập dực được coi là của Khổng tử soạn gồm các phần sau đây:

1) Thoán truyện có nội dung giải thích rõ ý nghĩa từng quẻ, bổ sung ý nghĩa của Soán từ. Thoán truyện chia làm hai phần thượng và hạ.
2) Tượng truyện được chia làm hai phần là Đại tượng truyện – giải thích hình ảnh (tượng) của mỗi quẻ; Tiểu tượng truyện có nội dung giải thích tượng của mỗi hào (cửu, lục) và vị trí của mỗi quẻ trong hệ thống 64 quẻ Hậu thiên.
3) Hệ từ truyện còn gọi là Hệ từ đại truyện, cũng chia làm hai thiên thượng và hạ nhằm giải thích những vấn đề và những hiện tượng liên quan đến kinh Dịch.
4) Văn ngôn cũng chia làm hai phần thượng và hạ. Thiên thượng bàn về quẻ thuần Càn, phần hạ bàn về quẻ thuần Khôn và các hào của hai quẻ này.
5) Thuyết quái nội dung giảng về 8 quái đơn và ý nghĩa cũng như hình tượng của mỗi quái.
6) Tự quái truyện nội dung giải thích về thứ tự của 64 quẻ trong hệ thống Chu dịch cũng chia làm hai phần thượng và hạ.
7) Tạp quái truyện nội dung là giải thích thêm về một số quẻ. Trên đây, chỉ xin được tóm tắt nội dung của những lời kinh văn trong kinh Dịch. Do phần kinh văn quá nhiều, nên trong cuốn sách này chỉ trưng dẫn những lời kinh văn có liên quan – nhằm chứng minh cho giả thuyết đã nêu; mong được bạn đọc thông cảm, lượng thứ. Bạn đọc nếu muốn tìm hiểu sâu về kinh Dịch hoặc kiểm chứng những vấn đề nêu ra trong sách này, có thể tham khảo và đối chứng qua những sách dịch về kinh Dịch đã giới thiệu với bạn đọc ở trên, hoặc qua các sách tham khảo được trình bày ở cuối cuốn sách này.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Phần I: Lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Chương I: Tóm lược lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán Tương truyền vào thời ...

Phần dẫn nhập: Cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch không nhằm giới thiệu nội dung của kinh Dịch theo cách hiểu phổ biến từ trước đến nay qua cổ thư chữ ...

Lời nói đầu: Trong những sách cổ của nền văn minh Đông phương, người ta thường nói đến những phương pháp ứng dụng được thực hiện với một thời gian ...

Lời giới thiệu: Say sưa miệt mài trên con đường tìm hiểu về nền văn hóa Á Đông, từ tác phẩm “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại” rồi ...

Bài viết này tôi tóm lược lại những điểm chính yếu trong tác phẩm Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc của tôi (phát hành vào dịp Tết Đinh Hợi). Ở đây tôi ráng ...

Kinh Dịch là thành tựu văn hóa kiệt xuất của phương Đông. Từ hơn 2000 năm nay, thế giới thừa nhận đó là sản phẩm của người Trung Hoa. Khoảng 30 năm lại ...

Ngôn ngữ của Dịch chỉ có hai ký tự: một hào âm và một hào dương. Hào dương là một vạch liền (-), hào âm là một vạch đứt (--). Đó là hai ký hiệu biểu ...

Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về Kinh Dịch, trong số đó có một công trình đặt lại vấn đề " tác quyền" của bộ Kinh ...

Dù thế nào đi nữa thì chúng ta cũng vô cùng biết ơn người Trung Hoa anh em có công cực kỳ lớn lao trong việc tiếp thu sách bói Liên Sơn, Quy Tàng từ tổ tiên ...