Vũ khí của cha ông ta: Thuyền chiến

Ngày đăng: 17/05/2010 00:00:00


Tới thời nhà Lý, quân thủy vẫn được coi là đội quân nòng cốt. Biểu hiện rõ rệt của thiên hướng phát triển quân thuỷ trong thời Lý còn ở chỗ nhà Lý rất chú trọng việc đóng thuyền.

Chính những chiếc thuyền chiến cùng đội quân thủy tinh nhuệ đã giúp nhà Lý trong những cuộc hành quân đánh Chiêm, phá Ung, Khâm, Liêm (năm 1075) và chống Tống (năm 1077).

Chiến thuyền nhà Lý

Theo sử liệu, loại thuyền chiến phổ biến nhất thời đó là Mông đồng. Đây là loại thuyền có khả năng tải trọng và hành trình rất tốt. Những cuộc hành quân đánh Chiêm Thành, vượt biển đánh Khâm, Liêm.... đã chứng tỏ điều đó.

Thuyền chiến còn có khả năng chở voi vượt biển làm quà trong những lễ nghi ngoại giao hoặc tăng sức đánh bộ trong những trận tập kích vượt biển.


 













Tranh tái hineej chiến thắng Bạch Đằng chống quân Nguyên Mông năm 1288.

Năm 1155 - 1156, nhà Lý cử sứ giả mang 5 con voi, theo đương biển vào cảng Khâm Châu làm quà cho vua Tống. Trong trận tập kích vào cảng Khâm năm 1075, từ Vĩnh An (khu vực Trà Cổ hỉện nay ) thuyền chiến của quân Lý đã đảm bảo chuyển hàng vạn quân bí mật vượt biển, tập kích rất bất ngờ vào cảng, khiến cho quan quân Tống chưa kịp đề phòng đã bị quân ta bắt sống gần như toàn bộ.

Đáng lưu ý, quân Lý có thể đã vượt biển trong đêm,qua một đoạn đương hàng trăm cây số trong mùa gió ngược. Lúc này vào khoảng cuối năm, theo thống kê của các nhà khí tượng học, thì vào tháng 12, khi cuộc tập kích đó diễn ra (29/12/1075), các đợt gió mùa đông bắc tập trung dày nhất.

Vượt qua những trở ngại về thời tiết, những đòi hỏi rất khắt khe về thời gian để tạo yếu tố bất ngờ, quân Lý đã thắng lợi giòn giã ở cảng Khâm. Thành công ấy có được là nhờ khả năng phục vụ chiến dịch rất cao của đội chiến thuyền.

Theo nhà sử học Nguyễn Lương Bích, năm 1228, khi nhà Trần thay nhà Lý, một tướng thuỷ cấp cao trong triều đình cũ của nhà Lý là Lý Long Tường đã dùng thuyền chiến đem gia đình và quân bản bộ vượt biển lên phía bắc.

Cuộc hành trình đã kết thúc tại một bến cảng thuộc một vùng đất thời đó còn vô cùng xa xăm với đất nước ta, đó là bờ biển Triều Tiên.

Thuyền hai lòng

Có hai loại thuyền đặc chủng được sử sách nhắc đến là thuyền lầu (lâu thuyền) và thuyền hai lòng (lưỡng phúc thuyền)

Trong Việt Sử lược đã nhắc đến hiện tượng này vào năm 1106: “Tháng 11, vua sắp có việc lôi thôi với nhà Tống, sai đóng thuyền Vĩnh Long hai đáy và đóng chiến hạm”.

Còn sách Toàn thư, nhắc đến một hiện tượng khác vào năm 1124: “Tháng giêng nhuận, đóng thuyền Tường Quan, kiểu hai lòng” nguyên văn là Lưỡng phúc thuyền, tức thuyền hai bụng, cũng có thể hiểu tương tự như hai đáy. Cho tới nay, cấu tạo loại thuyền này như thế nào vẫn chưa được giải mã.

Trong Võ bị chế thắng chi có nói đến loại thuyền Mẫu tử mà có lẽ Binh thư yếu lược vào thời Nguyễn đã chép lại. đây là loại thuyền chuyên dùng để đánh hoả công, gồm một khung thuyền giả to (thuyền mẹ) bọc ngoài, ở phía trước một chiếc thuyền thật nhỏ hơn (thuyền con).

Trên khung thuyền to, người ta chất củi lửa và thuốc cháy, mũi thuyền có những đinh nhọn. Khi đánh địch, người ngồi núp trong thuyền nhỏ chèo thật nhanh, lao thật mạnh vào thuyền đối phương, khiến cho những đinh sắt nhọn ở mũi khung thuyền giả cắm vào mạn thuyền đối phương.

Sau đó người ta đốt chất cháy trên thuyền giả đó rồi rút thuyền con khỏi khung thuyền to chạy về. Thuyền giả cháy sẽ đốt luôn thuyền đối phương.

Một loại thuyền khác vào thời nhà Hồ, cũng có thể hiểu là thuyền hai lòng hay hai đáy, đó là thuyền đinh sắt có hiệu là Trung tàu tải lương.

Theo mô tả, nếu thuyền bình thường có một đáy, thì thuyền loại này làm thêm một “đáy” nữa, tức một tầng sàn ở trên, chia bụng thuyền làm hai phần: phần dưới để lính chèo thuyền, phần trên giấu lính chiến đấu. Loại thuyền này khá lớn, phải hai người đẩy một mái chéo*.


 









Việt Nam là một trong những nước có thuyền lầu sớm trong quân thuỷ, đó là những thuyền lầu đơn giản khắc trên trống đồng Đông Sơn kèm theo hình ảnh người lính luôn sẵn sàng chiến đấu với cung nỏ trên tay.

Tới thế kỷ 19, theo ý nghĩa hình khắc trên chín đỉnh linh thiêng của triều Nguyễn, thì thuyền lầu được chọn như một loại thuyền chiến tiêu biểu cho quân thủy.



(Bài có dùng tư liệu sưu tầm và nghiên cứu của TS Nguyễn Văn Việt)


Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.