Vài nét về nghệ thuật biểu diễn thời Hùng Vương

Ngày đăng: 06/09/2008 00:00:00

Chúng ta được thấy trên các trống đồng, đặc biệt là trống Ngọc Lũ (Hà Nam) và Hoàng Hạ (Hà Tây) những hình chạm thể hiện sinh hoạt xã hội và nghệ thuật thời Hùng Vương mà tiêu biểu lại chính là các trống đồng. Trống thường làm bằng da, nhưng trống đồng không sử dụng thường xuyên mà để phục vụ cho các nghi lễ quan trọng như lễ cầu mưa, lễ xuất quân, lễ mừng chiến thắng hay lễ đăng quang. Trống đồng Ngọc Lũ có hình người đánh trống, đây là một người nữ ở tư thế ngồi, cầm dùi đâm theo chiều thẳng từ trên xuống mặt trống. Phần chân trống rỗng đặt úp xuống một cái hố cộng hưởng tạo độ rung khuếch đại âm thanh, tiếng trống cất lên  nghiêm trang, hùng tráng và sôi động. Trống đồng thời Hùng Vương vẫn còn được sử dụng lâu dài ở nước ta qua các triều đại Lý, Trần, Lê, ngày nay ở vùng Mường – Hòa Bình và Phú thọ còn có tục đâm trống đồng, còn gọi là chàm thau trong lễ cầu mưa và đón mừng năm mới.











Bên trống đồng là cồng chiêng, nhạc khí bằng đồng hình tròn có núm ở giữa. Trên các hình ở trống đồng Ngọc Lũ, ta được thấy những chiếc cồng đặt trong nhà sàn, chia làm hai bên, một người đứng giữa hai tay cầm dùi đánh cả vào hai giàn. Hiện nay, người Mường và người Ba-Na, Ê-Đê – Tây Nguyên vẫn có những dàn cồng đủ bộ, ít nhất là 5 chiếc, có dàn lên tới 18 chiếc. Với người Thượng – Tây Nguyên, cồng không chỉ là một nhạc khí mà còn là vật biểu hiện quyền lực và sự giàu có của chủ nhân. Người Việt cũng sử dụng cồng, thường gọi là chiêng, trong các lễ hội hay tang ma, nhưng là cồng lẻ dùng để điểm nhịp theo tiếng trống cái.


Ngoài trống đồng và cồng còn nhiều nhạc khí khác cũng được khắc họa, trang trí trên các trống đồng như khèn, trống da với trống lớn (trống cái) và trống con (trống bản, trống khẩn), sênh, phách, chuông, nhạc. Người đánh trống cái đứng gõ dùi vào mặt trống, chiếc trống đặt nằm ngang trên cái giá đỡ, đánh trống là một người nữ váy xòe hai bên, đánh trống con là một người nam ngồi phệt trên đất, gõ bằng cả hai tay cầm dùi.


Khèn cũng là nhạc khí phổ biến ở thời Hùng Vương, hình dạng cái khèn trên trống đồng cũng không khác gì khèn của người H’Mông hiện nay, như vậy tổ tiên rất xa của khèn H’Mông chính là khèn của Văn Lang. Không chỉ trên trống đồng ở Hà Tây và Hà Nam mới thấy hình khèn mà ở Đông Sơn (Thanh Hóa) cũng phát hiện được chiếc rìu đồng có cán chạm hình người cõng nhau thổi khèn, ở cán một chiếc gáo đồng Việt Khê (Hải Phòng) cũng có hình người ngồi xổm thổi khèn. Như vậy, khèn là một nhạc khí phổ biến của người Việt cổ mà ngày nay chỉ thấy ở vùng người H’Mông.


Không chỉ những nhạc khí nói lên sinh hoạt văn nghệ thời Hùng Vương, mà cũng trên trống đồng ta còn nhận được những thông tin ca hát và nhảy múa. Hình người, một nam, một nữ giao chân, giao tay nhau, miệng hé mở mà một số nhà nghiên cứu cho là trò chơi “trồng nụ trồng hoa” thì chính là hình thức ca hát giao duyên nam nữ mà Ngô Sĩ Liên đã nói tới trong Toàn thư. Khi vua nhà Lê về thăm Thanh Hóa, dân địa phương đón vua đã hát lý liên hay rí ren, trai gái bá vai níu cổ nhau mà hát. Phú Thọ còn bảo lưu được hình thức hát đối đáp nam nữ mà từng cặp vừa hát vừa cầm tay nhau co đi kéo lại, chân giai chân chẳng khác hình chạm vẽ trên trống đồng. Ta cũng còn được thấy hình một đôi nam nữ giã gạo chày đôi, miệng há ra, rõ ràng đây là hình thức hò giã gạo rất phổ biến ở miềng Trung.


Cũng trên trống đồng còn thấy những hình người nhảy múa, hoặc múa hóa trang đeo lông chim, múa tay cầm sênh phách, múa khèn, múa vũ khí, có thể nói nghệ thuật múa thời Hùng Vương đã phát triển cao.


Nghệ thuật biểu diễn thời Hùng Vương vừa là sinh hoạt vui chơi tập thể, vừa là hình thức nghệ thuật lễ nghi mang tính cộng đồng, tinh thần lạc quan yêu đời, biểu hiện một đời sống tinh thần phong phú, giàu sinh lực. Điều đáng chú ý là hầu hết các nhạc khí đều do nữ biểu diễn: Trống đồng, cồng chiêng, trống con, chuông nhạc và phách, riêng khèn có cả khèn nam và khèn nữ, điều này nói lên vị trí quan trọng của phụ nữ trong xã hội, tinh thần dân chủ và vai trò phụ nữ trong đời sống văn hóa thời vua Hùng dựng nước.

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.