TỤC ĂN TRẦU CỦA NGƯỜI VIỆT

Ngày đăng: 24/07/2011 00:00:00

Người Hà Nội vốn nổi tiếng sành ăn, sành mặc, Hà Nội là nơi chắt lọc những tinh hoa, nét đẹp của mọi miền để tạo nên nét đẹp cho riêng mình. Nét đẹp của Hà Nội thể hiện ngay cả trong tục dùng trầu - một phong tục mà theo truyền thuyết có từ thời Hùng Vương dựng nước (qua sự tích Trầu Cau mà người Việt Nam hầu như ai cũng biết.


Trước kia, người Hà Nội từ 13 tuổi trở lên là biết ăn trầu. Theo sứ giả nhà Nguyên vào đời Trần, ở Thăng Long, 61 phố phường đều trồng rất nhiều cau và trầu không. Người Hà Nội trước đây có câu:


Mua vôi chợ Quán, chợ cầu


Mua cau Nam Phố, mua trầu chợ Dinh






Chợ Cầu, chợ Quán là các chợ lẻ, chợ phụ dọc đường, Nam Phố là tên cũ của phố Hàng Bè bây giờ, nơi xưa bán rất nhiều cau tươi, cau khô. Chợ Dinh gần dinh quan phủ Phụng Thiên (quãng phố Phủ Doãn và Ngõ Huyện bây giờ). Ngày nay, người Hà Nội ít ăn trầu hơn trước nên không còn những phố bán trầu mà tập trung phần lớn ở những chợ một số ít được đem bán rong. Người Hà Nội rất công phu trong cách chọn trầu. Cau ngon phải là cau bánh tẻ, không già, không non, vừa tới hạt (nửa màu, nửa hạt). Người sành ăn thường kén mua cau Đông ở tỉnh Hải Hưng (cũ). Từ tháng 8 có thêm cau miền Nam nhưng người ta ít ăn vì loại cau này nhiều hạt không ngon. Mua trầu phải chọn lá hơi ánh vàng, nhỏ, dày, tươi. Ngày trước có trầu không làng Chả ngon nổi tiếng vì lá nhỏ, vừa thơm vừa cay, để có được lá trầu như vậy người làng Chả ngày đó trồng trầu cũng rất công phu, dàn trầu không phải được trồng trên đất trồng gừng. Ngày nay người Hà Nội ăn trầu Hưng Yên, vào dịp lễ hỏi người ta mua trầu Tây Sơn vì lá to đẹp. Người sành ăn trầu chọn vôi xứ Đoài - Sơn Tây.


Têm trầu cánh phượng - Nghệ thuật của người Hà Nội


Bộ đồ ăn trầu của người Hà Nội gồm có: cơi đựng trầu bằng đồng hoặc quả trầu sơn khảm xà cừ, ống vôi chạm bạc, ống nhổ bằng đồng thau đựng quết trầu. Những cụ già ăn trầu còn có thêm cối giã trầu bằng đồng chạm trổ khá tinh vi chỉ bỏ vừa miếng trầu, miếng cau, vỏ để giã. Dao bổ cau phải sắc để bổ cau cho đẹp và hạt không bị vỡ. Cũng chỉ là "Quả cau nho nhỏ, lá trầu xanh. Nói đến trầu têm cánh phượng là nói đến miếng trầu vùng Kinh Bắc. Cũng vẫn nguyên liệu ấy, nhưng cách têm đẹp, kiểu cách, đã thể hiện sự khéo léo của những liền chị-người gái quê Kinh Bắc. Vì thế, miếng trầu có sức hấp dẫn đặc biệt và để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai, dù chỉ một lần được mời.


Nhưng cách ăn trầu của người Hà Nội rất duyên dáng, họ ăn trầu không những làm đỏ môi, răng đen mà còn tạo nét môi cắn chỉ rất đẹp, Người ta không cho cả cau, trầu và rễ vào cùng một lúc mà ăn từng thứ một. Cau được nhai dập mới cho trầu vào và sau cùng là rễ quệt thêm một ít vôi, khi ăn người ta thường lấy tay quệt ngang miệng, lâu dần tạo thành nét môi cắn chỉ. Người xưa ăn trầu còn là để bảo vệ hàm răng của mình, chất chát của trầu cau làm cho lợi răng co lại ôm sát lấy chân răng, làm hàm răng cứng chặt lại không lung lay. Còn trong y học cổ truyền người Việt Nam xưa đã dùng trầu cau như một thứ thuốc chống bệnh sốt rét rừng một khi vào rừng sâu săn bắn hoặc xuống biển mò ngọc trai, săn bắt đồi mồi... Người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung xưa kia coi việc têm trầu là một nghệ thuật. Qua cử chỉ têm trầu, ăn trầu để phán đoán phong cách, tính nết cũng như nếp sống của con người. Chính vì lẽ đó, khi đi xem mặt nàng dâu tương lai, nhà trai đòi bằng được cô gái ra têm trầu, trước là để xem mặt cô dâu, sau là để xem cử chỉ têm trầu của cô gái mà phán đoán tính nết. Miếng trầu têm vụng về là người không khéo tay; miếng trầu nhỏ miếng cau to là người không biết tính toán làm ăn; miếng trầu quệt nhiều vôi là người hoang phí không biết lo xa...


Ngày nay, ở Hà Nội hầu như chỉ những người trên 60 tuổi mới ăn trầu cho nên Hà Nội không còn cảnh mời trầu như A.de Rovodes - một người Pháp nói về việc ăn trầu của người Thăng Long thế kỷ XII: "Họ có tục đem theo một vài túi con đầy trầu cau đeo ở thắt lưng, họ để mở trong khi qua lại phố phường để mời bạn bè. Khi gặp họ bắt đầu chào hỏi nhau, rồi mỗi người lấy ở trong túi của bạn một miếng trầu để ăn". Tuy nhiên, quan niệm "miếng trầu là đầu câu chuyện" của người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung vẫn được áp dụng ở những dịp hiếu, hỉ. Ngày Rằm, mồng Một hoặc các ngày lễ Tết hoặc trong những dịp lễ ăn hỏi, cưới xin của các gia đình Việt Nam vẫn không thể thiếu miếng trầu quả cau trên bàn thờ tổ tiên.Trầu cau chỉ là một thứ nhai chơi, tuy đơn sơ nhưng lại có nhiều ý nghĩa trên lĩnh vực y học, tâm lý xã hội... dùng trầu cau còn là một truyền thống văn hoá của dân tộc. Ngày nay, không mấy ai ăn trầu nhưng nét đẹp đó vẫn được gìn giữ và áp dụng trong cuộc sống của người dân.


Trầu têm cánh phượng


Miếng trầu gợi về những sự tích, những câu chuyện cổ, được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, mang đậm bản sắc dân tộc. Truyện Trầu cau, qua truyền miệng thêm bớt của nhiều thế hệ, những tình tiết “nguyên thủy” đã được khoác cái áo của lễ giáo cho phù hợp với đạo Khổng-Mạnh. Đến nay, chủ đề của Trầu cau lại trở thành câu chuyện luân lý, đạo đức, khuyên con người xích lại gần nhau hơn, vị tha hơn để sống chan hòa, nhân ái trong cuộc sống hội nhập. Câu chuyện Trầu cau khép lại bằng tục ăn trầu-một phong tục truyền thống của nhân dân ta để tô đậm tình cảm sắt son, thủy chung đẹp đẽ. Miếng trầu bao giờ “cũng là đầu câu chuyện” để bắt mối lương duyên và những khi có lễ nhỏ, lễ lớn, cưới xin, hội hè, ma chay... đều không thể thiếu miếng trầu. Vì thế mà truyện Trầu cau đã bất chấp thời gian mà sống mãi với nhân gian




Trầu là món ăn không giải quyết việc đói, no. Người ta ăn trầu là để thưởng thức vị cay thơm của lá trầu không, vị chát của vỏ, vị ngọt bùi của cau, vị nồng nàn của vôi... tất cả hòa quyện với nhau trong một màu đỏ sẫm. Nhiều người ăn trầu đã thành thói quen, rồi thành nghiện-nghiện trầu. Nhưng điều kì diệu của thói nghiện trầu phải chăng là ở chỗ, người ăn thấy nó gắn bó với số phận con người; bởi tách riêng, thì cay đắng, éo le, nhưng khi đã hòa chung thì tình cảm của họ lại thắm tươi, đẹp đẽ:


“Tách riêng, thì đắng, thì cay.


Hòa chung, thì ngọt, thì say lòng người.


Tách riêng, xanh lá, bạc vôi.


Hòa chung, đỏ thắm máu người, lạ chưa?


... Chuyện tình ngày xửa, ngày xưa!...”.


(Sự tích Trầu cau-Hồng Quang)


Theo phong tục Việt Nam, miếng trầu rất quen thuộc, dễ kiếm. Trầu tuy rẻ tiền nhưng chứa đựng nhiều tình cảm, nhiều ý nghĩa. Giàu nghèo ai cũng có thể có, vùng nào cũng có, từ Bắc chí Nam. Ăn trầu là một phong tục truyền thống, nhưng cách têm trầu thì lại mang rõ dấu ấn văn hóa của vùng miền.
“Mẹ tôi sáng nào cũng sang chợ ,chỗ ngã ba của làng để tìm mua dầu cau.Mẹ tôi bảo phải đi sớm để chọn được những lá trầu ngon.Về nhà mẹ ngồi cặm cụi têm trầu, rồi gói thành những gói nhỏ để đi biếu những người bạn giàu cau.Mỗi buổi chiều về ,các bà ,các cụ lại ngồi quây quần bên nhau bên hè phố nhỏ, ăn miếng trầu thơm, chuyện trò vui vẻ…



 


Mời trầu


- Miếng trầu đạo ngãi tương tư


Không ăn cầm lấy cũng như ăn rồi


- Miếng trầu ai rọc ai têm


Miếng cau ai bổ mà nên vợ chồng



-Mua cau , chọn những buồng sai


Mua trầu chọn những trăm hai lá vàng


Cau tiện ngang , trầu vàng ngắt ngọn


Thời buổi này kén chọn làm chi


Sao em không lấy chồng đi



-Miếng trầu là miếng trầu vàng


Ăn rồi ta kết nghĩa chàng nên đôi



- Trầu xanh , cau trắng , chay hồng


Vôi pha với nghĩa , thuốc nồng với duyên



- Yêu nhau trao một miếng trầu


Giấu thầy giấu mẹ , đưa nhau ăn cùng



- Vườn em tốt đất trồng cau


Cho anh trồng ghé bụi trầu một bên


Bao giờ cau nọ tốt lên


Trầu kia bén ngọn ta nên vợ chồng



-Tuổi em mười tám đang tròn


Rắp mua trầu lộc cau non để nhà


Để mà thết khách đàng xa


Bây giờ thấy khách lòng đà mừng thay


Gió hương đưa khách tới đây


Trầu têm cánh phượng hai tay bưng mời



-Trầu này ai dạm em đây


Hay là bông vải mẹ thầy em cho


Trầu này thực của em têm


Trầu phú trầu quý trầu nên vợ chồng


Trầu này bọc khăn tơ hồng


Trầu này kết nghĩa loan phòng từ đây



- Trầu đà có đây , cau đã có đây


Nhân duyên chửa định trầu này ai ăn


Trầu này trầu túi , trầu khăn


Cùng trầu giải yếm anh ăn trầu nào



- Trầu bọc khăn trắng cau tươi


Trầu bọc khăn trắng đãi người xinh xinh


Ăn cho nó thoả tâm tình


Ăn cho nó hả sự mình sự ta



-Trầu này trầu quế trầu hồi


Trầu loan , trầu phượng , trầu tôi , trầu mình


Trầu này trầu tính , trầu tình


Trầu nhân , trầu ngãi , trầu mình lấy ta



- Trầu này sáu miếng rõ ràng


Bỏ ra cơi thiếc mời chàng , chàng ơi


Trầu em trầu quế vừa vôi


Chàng ăn một miếng kết đôi vợ chồng



-Trầu này cúc , trúc ,mai đào


Trầu này thục nữ anh hào sánh đôi


Trầu này trầu quế , trầu hồi


Trầu này thục nữ ước người trượng phu



-Trầu không vôi ắt là trầu nhạt


Cau không hạt ắt là cau già


Mình không lấy ta ắt là mình thiệt


Ta không lấy mình ta biết lấy ai



-Trầu anh têm những hôm qua


Cau anh mới bổ nó ra con rồng


Trầu anh têm đã có công


Trầu mặn trầu nồng ăn chẳng có chê



-Vợ chồng ăn miếng trầu cay


Phải đâu khách lạ mà khay xà cừ



-Vào vườn hái quả cau xanh


Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu


Trầu này têm những vôi tầu


Giữa đệm cát cánh , hai đầu quế cay


Trầu này ăn thật là say


Dù mặn , dù nhạt , dù cay , dù nồng


Dù chẳng nên đạo vợ chồng


Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương


Cầm lược thì nhớ đến gương


Cầm khăn nhớ túi , nằm giường nhớ nhau



-Tay cầm trái cau vừa đi vừa bổ


Tay nhấc ngọn trầu vừa trổ vừa têm


Đôi ta trong ấm ngoài êm


Xa nhau đằng đẵng bao đêm em khóc thầm



-Trầu này trầu tính trầu tình


Trầu têm cánh phượng , trầu mình trầu ta


Trầu này trong tráp bỏ ra


Trầu têm cánh phượng , cau vừa chạm xong


Miếng trầu có bốn chữ tòng


Xin chàng cầm lấy vào trong thăm nhà


Nào là chào mẹ chào cha


Cậu cô chú bác mời ra xơi trầu



-Miếng trầu là miếng trầu cay


Làm cho bể ái khi đầy khi vơi


Miếng trầu têm để trên cơi


Nắp vàng đậy lại đợi người tri âm


Miếng trầu kèm bức thư cầm


Chờ cho thấy khách tri âm sẽ chào


Miếng trầu têm ở trên cao


Chờ cho thấy khách má đào mới cam


Miếng trầu têm để bên Nam


Mang sang bên Bắc mời chàng hôm nay


Miếng trầu xanh rõ như mây


Hạt cau đỏ ối như dây tơ hồng


Miếng trầu như trúc như thông


Như hoa mới nở như rồng mới thêu


Sưu tầm

Bài viết cùng chuyên mục

Bài viết dưới đây của Trần Minh Nhật - một học sinh của tôi và là nhà nghiên cứu Địa Lý Lạc Việt xuất sắc của TT NC Lý học Đông phương - Đáng nhẽ ra, anh Trần Minh Nhật là Phó Giám đốc phụ trách...

Với vai trò là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa Việt Nam, Tết Nguyên Đán vẫn mang trọn những nét đẹp truyền thống dù trải qua biết bao năm tháng.

Tết đến Xuân về không chỉ là niềm khao khát của biết bao đứa trẻ để được xúng xính quần áo mới, được ăn bánh mứt và nhất là được nhận lì xì.

&quot;Thầy cho con ăn một bát canh này thật là một niềm hạnh phúc. Hương vị cua đồng quê nhà ít có thức ăn nào sánh tày, quả là ngon&quot;.<br />

Đó là những ngôi chùa có vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam, vì nhiều lý do đã bị phá hủy hoàn toàn và không được khôi phục trở lại.<br />

Lễ cúng ông Táo cần phải được tiến hành trước khi ông Táo bay về trời báo cáo Ngọc hoàng, tức là trước 12h trưa ngày 23 tháng Chạp.

Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép, do đó có những sự khác nhau về tình tiết...

Thưởng trà là một nghệ thuật đòi hỏi sự tinh tế, cầu kỳ và công phu trong từng chi tiết. Đạo của trà Việt nằm ở cái tâm, cái thế của người pha cũng như người thưởng thức…

Các nghi lễ và lễ hội cung đình Huế là thành tố quan trọng nhất tạo nên bản sắc văn hóa Huế

Tây Nguyên được biết đến như là miền đất huyền thoại, là nơi cư trú của các dân tộc thiểu số: Ê- đê; Mnông; Gia Rai; Ba Na;… Đó là vùng đất của những điệu cồng chiêng, của rượu cần, đàn Tơrưng… và...