Tử vi tinh điển (phần 4) - Ngũ hành ở thuộc của các Tạp Diệu

Ngày đăng: 10/04/2008 00:00:00

Có thể mình đã vẽ rắn thêm chân? Qua vòng Tràng Sinh thì rõ cái chuyện vẽ rắn này. Như ta gọi sao Thai thuộc Thổ, sao Dưỡng thuộc Mộc, sao Lâm Quan Đế Vượng thuộc Kim thì thật vô lý.


Vì sao? Vì vòng Tràng Sinh là quá trình sinh ra lớn lên của một hành nếu theo số Tử Bình, còn Tử Vi thì tính Tràng Sinh căn cứ theo hành cục, như Thủy nhị cục, Hỏa lục cục…


Khi luận đoán tạp diệu gần như chẳng bao giờ đặt vấn đề ngũ hành. Nếu tạp diệu mà cũng ngũ hành thì luận đoán sẽ đi vào màn khói mù.


Luận về sao Âm Sát


Tử Vi khoa Việt không có sao Âm Sát. Nhưng Tử Vi khoa Trung Quốc lại rất chú trọng đến sao này. Âm Sát an thế nào? Âm Sát là sao thuộc nguyệt hệ, an theo tháng sinh như sau:


Sinh tháng 1 Âm Sát đóng Dần
Sinh tháng 2 Âm Sát đóng Tí
Sinh tháng 3 Âm Sát đóng Tuất
Sinh tháng 4 Âm Sát đóng Thân
Sinh tháng 5 Âm Sát đóng Ngọ
Sinh tháng 6 Âm Sát đóng Thìn
Sinh tháng 7 Âm Sát đóng Dần
Sinh tháng 8 Âm Sát đóng Tí
Sinh tháng 9 Âm Sát đóng Tuất
Sinh tháng 10 Âm Sát đóng Thân
Sinh tháng 11 Âm Sát đóng Ngọ
Sinh tháng 12 Âm Sát đóng Thìn


Như vậy sao Âm Sát chỉ có mặt ở các cung Dần, Tí, Tuất, Thân, Ngọ, Thìn thôi không vào các cung khác. Âm Sát tính chất là nghi tâm. Âm Sát vào quan hệ giao tế là tiểu nhân.


Âm Sát vào tư tưởng tâm lý là ảo giác thiên về những điều quái dị. Sao Âm Sát qua luận đoán của những vị tu hành (Phật giáo) là sao thuộc về linh giới.


Một nhà tướng số Trung Quốc tên Trịnh Giá Học có viết nguyên một cuốn sách về Âm Sát cả mấy trăm trang, nhưng thâu tóm lại ta có thể đưa thẳng ra những nguyên tắc của một trang cũng đủ, mấy trăm trang chẳng qua chỉ là những dẫn chứng rườm rà.


Sau đây là tác động của Âm Sát đối với các cung. Âm Sát vào Mệnh hay gặp tiểu nhân, bản tính nghi hoặc nên dễ bị phiền não vô ích, nếu thấy luôn cả Đà La, Hóa Kị Không Kiếp hãm thì dễ dàng đi đến ảo giác, suy nghĩ vớ vẩn, hoặc vì ma túy mà ra con người đầu óc lơ mơ.


Âm Sát ở cung Thiên Di, con người cô độc, ít hợp, khó hòa đồng hay ngại ngùng nghi kị, mê muội với sự vật hư ảo.


Âm Sát ở Tật Ách thêm những sát tinh khác, tư tưởng hành động thiếu thăng bằng bệnh tâm trí


Âm Sát ở Phụ Mẫu ưa những vọng tưởng không thực về gốc gác mình


Âm Sát ở Nô Bộc hay uất ức với bè bạn, với một công việc hợp tác, nghi kị. Âm Sát ở Huynh Đệ thường bị phản từ nội bộ


Âm Sát ở Phối cung đau khổ ngẩn ngơ vì người thương yêu mất đi do sinh ly hay tử biệt.


Âm Sát ở cung Quan Lộc làm một việc mê muội mà hại đến sự nghiệp,mê vợ mê tình nhân, hoặc cả tin vào bạn, người dưới quyền, người trên mà khốn khó.


Âm Sát ở cung Tài Bạch vì tự cao tự đại vì tham mê mà phá sản.


Âm Sát ở cung Phúc Đức tâm lý tư tưởng quá khích, cuồng tưởng, vọng tưởng, cuồng tính, gặp thêm các sát kị tinh có thể thành điên.


Âm Sát ở cung Tử Tức con người rất chủ quan, lại hay đi vào tín ngưỡng tôn giáo đồng bóng, tuyệt đối tin rằng con cái mình giỏi hơn, đáng kính đáng yêu hơn bất cứ ai khác.


Âm Sát ở cung Điền Trạch thường gặp những nhà cửa có ma quỉ, hoặc vì vợ mất đi, con chết mà cứ lởn vởn thấy linh hồn vợ con phảng phất.


Quan Phủ và Quan Phù


Vòng Bác Sĩ và vòng Thái Tuế có hai sao tính chất gần giống nhau dễ làm cho người ta lầm lẫn ấy là sao Quan Phủ thuộc vòng Bác Sĩ và sao Quan Phù thuộc vòng Thái Tuế. Giống nhau ở điểm cả hai đều có thể gây ra chuyện dính dấp đến luật pháp.


Sao Quan Phù của vòng Thái Tuế bao giờ cũng đứng thế tam hợp với Thái Tuế, cứ có Thái Tuế là phải có Quan Phù hội hợp. Còn Quan Phủ của vòng Bác Sĩ thì lại không có chuyện tam hợp như Quan Phù của Thái Tuế.


Câu phú:


"Quan Phủ Thái Tuế một cung
Đêm ngày chầu chực cửa công mỏi mòn"


Nếu Quan Phủ của câu này mà đổi thành Quan Phù thì ai cũng sẽ rơi vào vòng lao lý hết sao? Thế nhưng Quan Phù của vòng Thái Tuế cũng có tính chất của mệnh lệnh cấm chế thời xưa thuộc quan ty hình pháp. Như vậy hai sao này đã gây nên một nghi vấn. Do tam sao thất bản, hay do tối nghĩa?


 


Mời xem các bài khác:



  1. Tử vi tinh điển

  2. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Cơ

  3. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Tử vi

  4. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thái Dương

  5. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Vũ Khúc

  6. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Đồng

  7. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Tướng

  8. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Liêm Trinh

  9. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Phú

  10. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Cự Môn

  11. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thái âm

  12. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Tham Lang

  13. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Lương

  14. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thất Sát

  15. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Phá Quân

  16. Tử vi tinh điển (phần 2) - Những sao cấp hai

  17. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Xương Khúc

  18. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Tả Phụ Hữu Bậc

  19. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Tam Thai Bát tọa

  20. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận vể Hỏa Tinh và Linh Tinh

  21. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Kình Dương Đà La

  22. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Địa Không Địa Kiếp

  23. Tử vi tinh điển (phần 3) - Những sao cấp 3

  24. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Tuần Triệt

  25. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Long Trì Phượng Các

  26. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Ấn Quang Thiên Quí

  27. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiên Khốc Thiên Hư

  28. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiên Hình

  29. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiên Riệu

  30. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Kiếp Sát

  31. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Hông Loan Thiên Hỷ

  32. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Sao Đào Hoa

  33. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Hoa cái

  34. Tử vi tinh điển (phần 3) - Nói về Vòng Tướng Tinh

  35. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Vòng Tràng Sinh

  36. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Đại Hao

  37. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Quan Phủ

  38. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiếu Dương

  39. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiếu Âm

  40. Tử vi tinh điển (phần 4) - Luận về Thiên Không Thiên Việt

Bài viết cùng chuyên mục

Luận giải các sao ( 30/07/2010)

Trong đời sống mỗi một người đều có một số mạng và số mạng đó được thể hiện ở các chòm sao, có 3 loại: chính tinh, phụ tinh và Các sao không tốt, không xấu.

4. Vòng Thái Tuế: 14 Chính tinh không cần dùng đến chi của năm sinh để an, và vòng Thái Tuế cùng những sao ăn theo như Đào Hồng chính là một số ít sao phải dùng đến Địa Chi của năm sinh mà an. Cho...

Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương xin giới thiếu bài viết của Mộc Công: Tử vi - Những cách nhìn khác nhau về một số sao để bạn đọc chiêm nghiệm và tham khảo. 1.Không Kiếp - Xương Khúc an theo...

7. Cấu trúc root system của Nhóm G2 và sự tương đồng với qui tắc an sao của 14 Chính tinh Chi tiết hơn bây giờ ta sẽ xét qui tắc an sao của vòng Tử vi trong sự tương đồng khả dĩ với cấu trúc root...

3. Về sự tương đồng hình thức biểu diễn của nhóm G2 và nhóm 14 Chính tinhKhông gian biểu diễn root system của G2-14 chiều - 12 root đỉnh thể hiện như hình 1. Biểu diễn trên mặt phẳng được phân...

Tử vi đã có lịch sử rất lâu đời nhưng hiện tại nó vẫn có ảnh hưởng rất đáng kể trong đời sống xã hội ở Phương Đông. Yếu tố thiên văn, dáng vấp thiên văn là những điều rất dễ để nhận thấy trong cách...

LONG TRÌ PHƯỢNG CÁC  1.  NỮ MỆNH LONG TRÌ PHƯỢNG CÁC ÔN LƯƠNG Nữ Mệnh có Long, Phượng tọa thủ là người hiền lương ôn hòa.

TAM THAI BÁT TỌA 1.  MỘ TRUNG THÁI TỌA VĂN MỘ VŨ LƯỢC KIM ƯU Cung Mệnh, Thân có Mộ tọa thủ gặp Thai, Tọa đồng cung là người văn võ song toàn.

THIÊN MÃ 1.  THIÊN MÃ NHẬP MỆNH MẪN TIỆP ĐA NĂNG Cung Mệnh có Thiên Mã tọa thủ là người siêng năng.

THIÊN HÌNH   1. THIÊN HÌNH THẤT SÁT CƯƠNG TÁO NHI CÔ   Cung Mệnh, Thân có Hình, Sát toạ thủ đồng cung, là người nóng nảy ráo riết không ai dám gần nên phải phải cô đơn ít bạn bè và thường sát vơ...