Tìm dấu sông Thiên Phù ở Thăng Long xưa

Ngày đăng: 26/05/2010 00:00:00


Theo tấm bản đồ cổ so với địa giới ngày nay, thì dòng sông ấy khởi nguồn từ giữa hai làng Phú Xá và Nhật Tân, chảy theo hướng Bắc Nam, qua cánh đồng Xuân Đỉnh, đến cánh đồng Xuân La thì một nhánh chảy về phía Tây qua Cổ Nhuế hòa dòng với sông Nhuệ, một nhánh chảy xuống phía Nam, qua Bái Ân đến vùng Nghĩa Đô - Yên Thái thì nối với sông Tô Lịch.


Sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên đầu Thế kỷ XIV có viết: “Thời nhà Đường (723 – 739), Thứ sử Quảng Châu là Lư Ngư lúc ấy đang đô hộ nước ta, đóng quân tại An Điền (khoảng giữa hai Huyện Long Đỗ và Từ Liêm) thấy đất này bằng phẳng rộng rãi, cỏ cây tươi tốt, phía sau có Sông Già La (Sông Thiên Phù) địa thế rất đẹp. Lư Ngư bèn sai lập phủ huyện và lập đền thờ Huyền Nguyên Đế Quân. Một đêm, Lư Ngư nằm mộng, thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc đến bảo rằng: Quán này nên đặt là Khai Nguyên, thôn này cũng đổi là Khai Nguyên. Lư Ngư thức dậy cả sợ bèn theo lời thần mộng đặt lại tên thôn, tên quán và dựng bia xây miếu thờ”.


Chỗ ấy nay là Chùa Khai Nguyên, thôn quán La Xã. Như vậy là vào thời ấy, ở ngôi quán sau này là Chùa Khai Nguyên đã có Sông Thiên Phù chảy qua.


 









Bản đồ thành Thăng Long thời Hồng Đức


Làng Yên Thái vùng Bưởi có ngôi đền thờ ông Dầu bà Dầu. Hai vợ chồng đã trẫm mình xuống ngã ba sông Thiên Phù và sông Tô Lịch hiến linh thần, để góc thành phía Tây nhà Lý không bị nước cuốn xói lở, giúp Vua khỏi đau mắt, Vua nhớ ơn phong thần và sai lập miếu thờ.


Nghe tin anh và chị dâu mất, người em quá thương xót đã chạy dọc theo bờ sông phía làng Bái Ân, đến vùng Quán cây ao cá thì vấp ngã rồi hóa. Trước tấm gương vợ chồng thủy chung, anh em chí nghĩa, dân làng đã tôn ông làm Thành hoàng. Theo dân gian thì vùng ao cá hiện nay là một đoạn còn lại của sông Thiên Phù.


Cũng theo truyền thuyết thì có lần Vua Lý Thái Tổ dong thuyền trên sông để tìm hiểu dân tình. Thuyền Vua đã ghé thăm làng Bái, một làng dệt vải. Dân làng nô nức ra đón và dâng Vua tấm lụa. Cảm kích trước lòng dân nhân nghĩa, Vua ban cho làng Bái thêm một chữ Ân thành làng Bái Ân.


Vào thời ấy giao thông đường thủy thuận lợi dọc ngang sông nước. Thuyền đi từ sông Thiên Phù có thể ra sông Hồng ngược lên phía Bắc, hoặc theo sông Tô Lịch men theo một vài dòng sông có thể ra tới cửa biển Ninh Bình – Nam Định rồi vào Nam.


Trong bài minh khắc trên tấm bia đá Vĩnh Tộ ngũ niên (1623) tại Làng Võng Thị vùng Bưởi cũng có câu: “Tích hồ khâm giang” (Mặt hồ là chiếu, dòng sông là giải áo) để nói lên hình thế Hồ Tây và Sông Thiên Phù ở vùng này.


Vào năm Cảnh Hưng (1747), Chúa Trịnh đã ra lệnh chỉ cho Làng Bái Ân được canh tác trên các khoảng ao và ruộng trũng vốn là Sông Thiên Phù lấy hoa lợi phụng sự Thành hoàng. Đó chính là thời dòng Sông Thiên Phù bị lấp.


Để tìm dấu tích dòng Sông Thiên Phù, một chiều nắng đẹp, lần theo dấu vết trên bản đồ thời Hồng Đức, phải đi dọc vệt dòng sông xưa.


Ngã ba Nghĩa Đô, nơi vẫn còn ghi dấu góc thành phía Tây nhà Lý, đoạn cuối Đường Hoàng Hoa Thám và con đê Bưởi. Đây là ngã ba hòa dòng của Sông Thiên Phù và Sông Tô Lịch. Bến sông xưa, giờ là đường sá phố phường và chợ búa bán buôn tấp nập. Đi tiếp phía bên phải Hồ Tây mặt gương loáng bạc in bóng những ngôi chùa cổ. Nào Chùa Vạn Thiên, Chùa Thiên Nhiên, Chùa Tào Sách. Đoạn rẽ qua Cổ Nhuế chảy ra Sông Nhuệ, giờ chỉ còn dấu vết những đoạn mương nhỏ ngắt quãng. Chỗ trước Đình Chạ, Làng Cổ Nhuế, vẫn còn một vệt cũ, mà theo các già làng thì đấy là vạch chảy còn lại của Sông Thiên Phù.


Tìm dấu cũ chỉ để hiểu thêm về mảnh đất địa linh nhân kiệt, để nhớ về một thuở hào hùng cha ông dựng nước và giữ nước, để càng tự hào về một Thủ đô hòa bình và anh dũng, đang bước vào dựng xây, chỉnh trang, quy hoạch, với khí thế rồng vàng bay lên...


Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.