Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2

Ngày đăng: 07/06/2008 00:00:00

Qua những bức tranh dân gian của làng Đông Hồ, bạn đọc lại thấy hình ảnh đặc thù quen thuộc từ thời Hùng Vương. Đó là con Cóc, một biểu tượng cho nền văn minh chữ viết của Văn Lang; con Rùa biểu tượng cho phương tiện chuyển tải chữ viết ở thời kỳ đầu lập quốc (“giống rùa lớn thường chỉ thấy ở sông Dương Tử”, như học giả Nguyễn Hiến Lê đã viết trong tác phẩm “Sử Trung Quốc” của ông). Hình ảnh trong tranh chú bé ôm Rùa, ôm Cóc là những hình tượng rất đặc thù trong văn hoá Việt Nam. Có thể nói rằng: khó có thể chứng minh được những hình ảnh này đã xuất hiện đâu dó từ một nền văn hoá khác; hoặc có thể chứng minh được rằng: những hình tượng này xuất hiện từ thời Việt Nam hưng quốc. Hay nói một cách khác: nội dung và những hình tượng này đã có từ một thời rất xa xưa: Thời Hùng Vương, cội nguồn của văn hoá Việt Nam. Nội dung của những bức tranh Lạc Việt này, ngoài việc thể hiện những giá trị đạo lý và mơ ước của con người, còn thể hiện sự hoà nhập giữa con người và thiên nhiên qua hình ảnh những đứa trẻ bụ bẫm – thể hiện sự phú túc và tính thơ ngây thiên thần – với những sinh vật gần gũi trong cuộc sống.














Chăn Trâu Trời xanh trong tiếng sáo
Tranh dân gian làng Đông Hồ

Chúng ta cũng có thể tìm thấy ý tưởng đầy trí tuệ và nhân bản này qua bức tranh “Chăn trâu”, cũng của làng tranh Đông Hồ. Qua hình ảnh: chú bé vô tư, ngồi đè lên những bông sen trên lưng trâu, say sưa thả hồn theo tiếng sáo; con trâu (không hề có sự ràng buộc của dây vàm) ngóc đầu lên như muốn đồng cảm với con người. Bạn đọc có thể tìm thấy trong bức tranh này một nội dung mang tính minh triết của Phật giáo: tính phá chấp (ngồi đè lên bông sen), sự chế ngự bản ngã (cưỡi trâu) và sự hoà nhập chân tính của con người với thiên nhiên. Nhưng từ một góc độ khác, người viết cho rằng bức tranh “Chăn trâu” không xuất phát từ ý tưởng Phật giáo, mà mang một giá trị minh triết từ nền văn minh Lạc Việt. Hình tượng chiếc lá sen che trên đầu chú bé giống hình tượng của cây nêu: sự vươn lên dẫn tới hoà nhập hoàn toàn với thiên nhiên; tức là đạt tới bản thể của Tạo hoá. Lời chú thích trong tranh minh hoạ cho ý tưởng này :“Thiên thanh lộng suy địch“; tức là “Trời xanh trong tiếng sáo“. Phải chăng tính minh triết Phật học có sự gần gũi với tính minh triết trong xã hội Lạc Việt cổ, nên có thể có sự giải thích riêng cho cùng một hình tượng nghệ thuật?



Những bức tranh dân gian của trẻ em Lạc Việt mua về dán đầy tường chơi trong những ngày Tết. Với màu sắc sặc sỡ vui mắt, hình ảnh và nội dung trực tiếp của những bức tranh dân gian Việt Nam mang tính giáo dục những giá trị nhân bản, đạo lý và khuyến khích vươn tới những mục đích của con người trong xã hội đương thời: lễ trí, nhân nghĩa, phú quí, vinh hoa; hoặc tính vui sống trong lao động và sự yên bình. Nhưng hàm nghĩa sâu xa của những bức tranh dân gian Việt Nam lại mang đầy tính minh triết của văn hoá Đông phương về những ước mơ thánh thiện của con người.


Lễ Trí Tranh dân gian Đông Hồ


Trong tranh “Lễ trí”, qua hình tượng con rùa – phương tiện chuyển tải tri thức dưới thời Hùng Vương vào thời kỳ đầu lập quốc – chính là biểu tượng của sách học. Phải chăng, ý tưởng “Tiên học lễ” bắt đầu từ nền văn minh Lạc Việt?


Nhân nghĩa Tranh dân gian Đông Hồ


Trong tranh “Nhân nghĩa”, hình tượng con cóc chính là biểu tượng của người thày của chú bé (“Thầy đồ Cóc”, vì chỉ có Cóc mới có chữ Khoa đẩu – nòng nọc – để dạy cho đời). Phải chăng những ý niệm về “Tôn sư trọng đạo”, “Tiên học lễ, hậu học văn” của Nho giáo, chính là những ý tưởng đã có từ lâu trong thời Hùng Vương? Bởi vì hình tượng con Cóc và con Rùa bắt đầu và thuộc về nền văn minh Văn Lang. Những dấu ấn của nền văn minh Văn Lang còn đâu đó trong những trò chơi trẻ em lưu truyền trong dân gian, như: Ô ăn quan, Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ … như là một sự giáo dục, đào tạo những thế hệ tiếp nối nền văn minh đã một thời kỳ vĩ. Chính từ nền giáo dục nhân bản ấy, đã tạo nên những thế hệ tiếp nối duy trì nền văn hiến Văn Lang với một bề dầy thời gian gần 3000 năm trong lịch sử loài người.


Ông Khiết và chòm sao Tiểu Hung Tinh
Biểu tượng của nền văn minh Khoa Đẩu và tri kiến vũ trụ quan kỳ vĩ


 


Mời xem các phần khác:



  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch

  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu

  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu

  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I

  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1

  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2

  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương

  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II

  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1

  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2

  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III

  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1

  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2

  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3

  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV

  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1

  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V

  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI

  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1

  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2

  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1

  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2

  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII

  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1

  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3

  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4

  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII

  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1

  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết


Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.