Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 1

Ngày đăng: 07/06/2008 00:00:00

Những hình ảnh này đã đẩy không gian hình thành câu chuyện vào giai đoạn tối cổ khi thiên nhiên vừa là cuộc sống, vừa là sự sợ hãi của con người.
Ngoài những hình ảnh tương đồng dễ đi đến ngộ nhận nguồn gốc từ nước ngoài, thì truyện Thạch Sanh có những nét đặc thù của người Lạc Việt về nội dung lẫn hình ảnh nhân vật. Trước hết, đó là hình ảnh rất ấn tượng của Thạch Sanh: ở trần đóng khố với cái rìu, vừa là công cụ sinh nhai vừa là vũ khí chiến đấu của chàng. May mắn thay! Với bao thăng trầm của lịch sử, câu chuyện cổ tích đầy nhân bản của dân Lạc Việt vẫn không mất đi hình ảnh độc đáo của nó, đó chính là cái rìu. Có một số truyện cổ tích thần thoại khác trên thế giới – xuất hiện vào thời kỳ mà con người không còn chỉ đấu tranh với thiên nhiên mà là với chính con người – thì cũng có hình ảnh chiếc búa, người em được sinh ra từ bà dì ghẻ của cái rìu. Nhưng cái búa trong những truyện thần thoại khác, thuần túy chỉ là vũ khí chiến đấu, chứ không kiêm một công cụ sinh hoạt như Thạch Sanh (thí dụ như truyện “Phá núi cứu mẹ” của Trung Quốc, hoặc hình ảnh cái búa của ông Thiên Lôi trong thần thoại Việt Nam và Trung Quốc). Về hình tượng cái rìu của Thạch Sanh – liên quan đến thời kỳ lập quốc – là hình ảnh lúc khai sơn phá thạch của người Lạc Việt. Xin bạn đọc xem một đoạn trích dẫn sau đây của các nhà nghiên cứu Việt Nam hiện đại, được trích dẫn trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (sách đã dẫn).


Về ý nghĩa của tộc danh Việt lâu nay một số người thường dựa trên dạng Hán tự hiện đại có chứa bộ “tẩu”   của chữ này để giải thích rằng Việt nghĩa là chạy, vượt. Thực ra chữ Việt trong Hán tự đã trải qua nhiều cách viết rất khác nhau - đây là một tên gọi có từ lâu đời (họ Việt Thường, chủng Bách Việt được nhắc tới trong sử Bắc từ rất sớm).
Theo Bình Nguyên Lộc (1971: 154-157, 784-787), Việt vốn là tên gọi một loại công cụ kiêm vũ khí rất đặc thù của người (tiền) Việt cổ: cái rìu. Khảo cổ học đã tìm được ở khắp nơi trong địa bàn cư trú của người tiền Việt cổ rất nhiều loại rìu với các chất liệu khác nhau (đá, đồng, sắt); ở khu vực của người Indonesia là rìu đá có tay cầm (= có vai, xem hình 3.2a); ở khu vực của người Nam Á (Bách Việt) là các loại rìu đồng hình tứ giác (hình 3.2b), rìu đồng lưỡi xéo (hình 3.2c). Trong ngôn ngữ Nam Á cổ đại, rìu có lẽ đã được phát âm là yịt hoặc một âm gì đó tương tự (3) (các truyền thuyết Mường vẫn gọi vua Việt là vua Yịt (Dịt) hay Yịt Yàng (Dịt Dàng). Khi tiếp xúc với người phương Nam, tổ tiên người Hán với tính cách du mục vốn có đã rất chú ý đến loại công cụ có thể dùng như vũ khí này, coi nó là đặc trưng quan trọng của người phương Nam nên đã gọi họ là bọn Rìu; Yịt được phiên âm theo tiếng Hán cổ, rồi tiếng Hán lại phiên trở lại theo cách đọc Hán - Việt thành Việt. Chính cái vật thật là cái rìu lưỡi xéo có cán (hình 3.2d-e) đã là nguyên mẫu để tổ tiên người Trung Hoa khi tiếp xúc với phương Nam, đã mô phỏng theo đó mà tạo nên chữ “Việt” nguyên thủy (hình 3.2f). Còn trong tiếng Việt, chữ Yịt nguyên thủy đã trải qua nhiều biến đổi ngữ âm để có được bộ mặt của chữ “rìu” hiện nay cùng với cả một họ các từ gần nghĩa: rìu, rèn, rào, dao, rựa ... bên cạnh đó cho đến gần đây vẫn có một chữ “Việt” với tư cách danh từ chung có nghĩa là rìu; nó xuất hiện trong kết hợp phủ việt (phủ = búa, việt = rìu).
Đến thời Khổng tử, chữ “Việt”  vẫn còn giữ được ký hiệu  tượng hình cho cái rìu; ngoài ra nó còn được bổ sung thêm một nét đặc trưng quan trọng nữa là bộ mễ  để chỉ dân trồng lúa (Kim Định 1970: 60-61, 82). Ngay cả chữ “Việt” hiện thời  cũng còn giữ được dấu vết của “cái rìu” đó qua sự hiện diện của bộ thích. Theo Vệ Tụ Hiền trong “Ngô Việt thích danh thuyết” thì chữ  (Việt, tên dân tộc) chính là chữ  (Việt) chỉ cái rìu búa. Ở lưu vực sông Hoàng Hà, ngay trong các di chỉ thời đồ đá mới cũng chưa phát hiện được búa rìu ... Nó là do dân tộc xưa ở Triết Giang phát minh ra ... Chữ (Việt) thời cổ là tượng hình cái búa. Nước Việt vì sản xuất ra búa (rìu) nên lấy làm tên gọi” (dẫn theo Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn 1960:193).


Chú thích trong sách đã dẫn: Ở đây không đi vào những chi tiết kỹ thuật vốn phụ thuộc về bộ môn ngữ học gọi là ngữ âm học lịch sử.



Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc dễ dàng liên hệ với xuất xứ của truyện Thạch Sanh; không thể bắt đầu từ thời hưng quốc (Đinh, Lê, Lý, Trần), càng không thể bắt đầu từ thời Bắc thuộc. Hình ảnh cái rìu của Thạch Sanh chứng tỏ: câu chuyện có xuất xứ ngay từ buổi đầu lập quốc. Tính huyền thoại cổ tích trong truyện Thạch Sanh, chứng tỏ người Lạc Việt đã xuất hiện từ thời xa xưa, tương tự hoặc hơn hẳn các quốc gia cổ đại thuộc các nền văn minh khác thể hiện qua các truyện cổ tích của họ.


Cây đàn Thạch Sanh
Một hình tượng giàu chất đạo lý và nhân bản


Nếu cái rìu và cái khố là những nét đặc trưng của y phục và công cụ trong lúc làm việc của người Lạc Việt buổi đầu lập quốc, thì niêu cơm nhỏ bé và cây đàn thần là biểu tượng sinh động nhất của một cuộc sống vật chất khiêm tốn và tâm hồn phong phú của người Lạc Việt, trong giai đoạn phát triển toàn diện của xã hội Văn Lang. Một thông điệp đầy đạo lý của ông cha cho đời sau – qua hình tượng của niêu cơm bé nhỏ – đã khuyến cáo một sự tiết độ cần có, mặc dù khả năng của nó là không giới hạn. Đây là một hình tượng mang tính minh triết của nền văn minh Lạc Việt: Tính tiết độ làm nên sự phú túc cho cuộc đời.
Nhưng chính hình tượng cây đàn thần với thanh âm huyền diệu của Thạch Sanh, mới thực sự thể hiện chất lãng mạn độc đáo giầu chất nhân bản và sự kỳ diệu đạt đến tuyệt đỉnh của câu chuyện này.
Trong tất cả những truyền thuyết, huyền thoại của các dân tộc trên thế giới hầu như không thiếu những hình ảnh những thanh âm huyền diệu. Từ tiếng sáo của Lộng Ngọc – Tiêu Sử trong Đông Chu liệt quốc, hay như tiếng đàn tài tử của Tư Mã Tương Như với khúc Phượng Cầu Hoàng làm xiêu lòng Trác Văn Quân. Có thể giới thiệu với bạn đọc những thanh âm huyền thoại đã đi vào lịch sử, như: tiếng địch u hoài của Trương Lương trên dòng Ô Giang, khiến lòng quân Sở phải tan nát, người đẹp Ngu Cơ tự sát, anh hùng Hạng Võ phải rơi đầu; hay cung đàn đầy khí phách của Khổng Minh, khiến Tư Mã Ý phải quay đầu chạy trốn trong trận Nhai Đình; hoặc tiếng sáo bi phẫn của Cao Tiệm Ly bên dòng Dịch Thủy làm cho những anh hùng Yên quốc phải rơi lệ, uất khí vương trắng trời xanh... Tiếc thay, tất cả những thanh âm huyền thoại đó, đều là những giai điệu hòa chất lãng mạn, nhưng đầy bi tráng trong cuộc đấu tranh sắt máu của con người với chính con người trong lịch sử.
Nhưng trong tiếng đàn của Thạch Sanh – thuộc về nền văn minh Lạc Việt – là tiếng đàn duy nhất trong những huyền thoại về tiếng đàn, thể hiện tình yêu bao la của con người với chính con người. Những thanh âm huyền diệu của cây đàn thần qua tâm hồn thánh thiện của Thạch Sanh, chan hòa niềm ước mơ về một cuộc sống mà trong đó con người đồng cảm với nhau trong tình nhân ái. Cung bậc của những thanh âm vi diệu này đã bày tỏ được nỗi oan khiên, chứng minh cho công lý.
Chất lãng mạn trác tuyệt đạt đến tuyệt đỉnh ở câu truyện cổ tích thần thoại Lạc Việt, chính là hình tượng thanh âm chứa đầy tình nhân ái đã hóa giải được chiến tranh với 18 nước chư hầu. Thanh âm thiên thần ấy là của niềm mơ ước vươn tới sự tuyệt mỹ của những giá trị nghệ thuật – sự tột cùng của vẻ đẹp cuộc sống – sẽ đạt tới những rung cảm vi diệu trong cõi tâm linh sâu lắng nhất của con người. Tiếng đàn đã khơi dậy từ nguồn cội tâm linh tình yêu cuộc sống và con người – hành trang mà tạo hoá đã ban cho mỗi con người từ thuở hồng hoang của nhân loại. Những chiến binh kiêu hùng, đã buông vũ khí để trở về với giá trị đích thực của cuộc sống; đó là sự sống trong thanh bình và lòng nhân ái. Đây cũng là chân giá trị của nền văn hiến Văn Lang. Hình tượng sáng tạo độc đáo của tác gia Lạc Việt trong chuyện Thạch Sanh, đã làm nên sự khác biệt và không hề có dị bản gần gũi trong các truyện cổ tích khác trên thế giới.
Một giá trị độc đáo nữa của câu chuyện thần thoại từ nền văn minh Lạc Việt là đã đặt trong tâm hồn con người – một cách tự nhiên như hơi thở – chất lãng mạn của thiên thần khi mơ ước: những giá trị nghệ thuật – đỉnh cao của văn hoá nhân loại – sẽ hoá giải được nỗi đau khổ lớn nhất mà con người tự gây ra cho mình, đó là chiến tranh. Đây cũng là bức thông điệp của tiếng đàn Thạch Sanh chuyển tải cho mai sau. Và đó cũng là giá trị của nền văn hiến Văn Lang – nhà nước đầu tiên được hình thành gần 5000 năm về trước, kể từ thời Hùng Vương thứ I. Ngoài giá trị nghệ thuật, tiếng đàn Thạch Sanh – qua hình tượng lãng mạn trong câu truyện đầy huyền thoại này – còn mang một giá trị minh triết về thanh âm chính là cội nguồn của tư duy và tình cảm con người. Nền khoa học hiện đại ngày càng nhận ra rằng: chính thanh âm có tác động đến tư duy và tình cảm con người. Những thông tin đầu tiên mà con người chuyển tải cho nhau trước khi có chữ viết, chính là âm thanh.
Phải chăng, xã hội Văn Lang đã đạt tới một đỉnh cao về nghệ thuật và giá trị của thanh âm, để làm nền tảng cho ước mơ lãng mạn đầy chất thiên thần trong câu chuyện Thạch Sanh?


 


Mời xem các phần khác:



  1. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời bạch

  2. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Lời nói đầu

  3. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Phần mở đầu

  4. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I

  5. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 1

  6. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - 2

  7. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương I - Phụ chương

  8. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II

  9. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 1

  10. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương II - 2

  11. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III

  12. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 1

  13. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 2

  14. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương III - 3

  15. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV

  16. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IV - 1

  17. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương V

  18. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI

  19. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 1

  20. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - 2

  21. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 1

  22. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VI - Phụ chương - 2

  23. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII

  24. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 2

  25. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 3

  26. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VII - 4

  27. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII

  28. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương VIII - 1

  29. Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại - Chương IX - Lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.