Thiên văn phương Đông

Ngày đăng: 14/07/2010 00:00:00


Từ thời thượng cổ, vòm trời bao la đã được nhân loại trên Trái đất nhỏ bé chiêm ngưỡng. Tuy nhiên Vũ trụ hầu như vẫn giữ nguyên vẹn tính chất bí hiểm. Bởi trình độ khoa học chưa được tiến triển đến mức độ để có thể thỏa mãn sự tò mò của con người trong hàng chục thế kỷ.


Từ thời thượng cổ, vòm trời bao la đã được nhân loại trên Trái đất nhỏ bé chiêm ngưỡng. Tuy nhiên Vũ trụ hầu như vẫn giữ nguyên vẹn tính chất bí hiểm. Bởi trình độ khoa học chưa được tiến triển đến mức độ để có thể thỏa mãn sự tò mò của con người trong hàng chục thế kỷ.


Thiên văn được coi là một ngành ưu tiên ở các nước phương Đông vì những sự kiện xảy ra trên trời có liên quan đến đời sống của dân gian, đặc biệt là khí hậu và mùa màng. Buổi tối mùa hè, ta thường nhìn thấy chòm sao Thần Nông mọc ở hướng đông nam trong đó có một ngôi sao sáng, sao Alpha Antares ở ngay ven giải Ngân Hà.


Chòm Thần Nông dường như đứng thẳng trên chân trời. Nếu ta nhìn lên vòm trời những buổi tối mùa thu, ta thấy Thần Nông cúi rạp về hướng chân trời tây nam trước khi lặn. Lúc đó là mùa gặt nên dân gian hình dung Thần Nông cúi xuống gặt lúa.

Đó là một phương tiện đơn giản, dựa trên xự thay đổi biểu kiến của các chòm sao, mà các nhà nông ngày xưa dùng để nhận định thời vụ. Sự chuyển động biểu kiến của các ngôi sao là do Trái đất tự quay chung quanh một trục xuyên qua cực bắc gần sao Bắc Đẩu (hình 1). Vòm trời quay được một vòng trong 23 giờ 56 phút 4 giây, cho nên mỗi ngày 24 tiếng, các sao trên trời dường như chuyển động nhanh hơn gần 4 phút.

Ở một thời điểm xác định, mỗi ngày vị trí của sao thay đổi chút ít trên vòm trời. Một chòm sao ta nhìn thấy những buổi tối mùa hạ có thể không hiện trên vòm trời những buổi tối mùa đông vì đã lặn xuống chân trời.

Các học thuyết của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo về đạo lý con người và sự hài hòa với Vũ trụ có ảnh hưởng tới những lĩnh vực như thiên văn, địa lý và y dược. Chiêm tinh học dựa theo vị trí tinh tú để tiên đoán tương lai đã chiềm một địa vị quan trọng trong ngành thiên văn thời xưa. Bên Trung Quốc, những nhà thiên văn kiêm chiêm tinh học được liên hệ trực tiếp với triều đình và được tiếp đón ngay trong hoàng thành để chăm lo việc tế lễ. Tên và thứ bậc các vì sao trên vòm trời được ấn định theo mô hình thứ bậc trong triều đình. Sao Bắc Đẩu tượng trưng ngai Hoàng Đế và tất cả hệ thống sao quay chung quanh là các quan trong triều.

Quan sát Vũ trụ ngày xưa chủ yếu để phục vụ ngành chiêm tinh bằng cách phát hiêẹn những sự kiện bất thường nhìn thấy bằng mắt trần trên vòm trời. Người Trung Quốc bắt đầu từ khoảng 1500 năm trước công nguyên, vào đời nhà Thương, đã khắc trên những mẩu xương những sự kiện thiên văn như nguyệt tực, nhật thực và sự xuất hiện đột ngột của những ngôi sao mới trên trời (hình 2). Mỗi khi sao chổi xuất hiện trên bầu trời, người ta cho rằng đó là điềm chẳng lành.

Người Hy Lạp và A Rập ngày xưa hình dung sao chổi như một mớ tóc hay một lưỡi kiếm lửa bay trên không trung, tượng trưng sự căm giận của Thượng đế, gieo những thiên tai và tang tóc. Năm 1910 khi sao chổi Halley trở lại gần Trái đất, dân chúng thành phố San Francisco rất kinh hoàng vì sợ hít phải hơi độc cyanur phát hiện thấy trong đuôi sao chổi. Có người dùng mặt nạ để chống khí độc!

Thật ra dù có chất cyanur trong sao chổi, nhưng vì khí rất loãng nên không có ảnh hưởng đến cơ thể. Tất cả những sự hiện diện của sao chổi Halley trên bầu trời với chu kỳ 76 năm, lần nào cũng được quan sát và ghi chép trong sử Trung quốc từ 20 thế kỷ nay Chu kỳ 76 năm là do nhà thiên văn người Anh tên là Halley ở thé kỷ thứ 18 xác định. Sự kiện sao chổi này đã được ghi vào nhiều bức tranh, đặc biệt là tấm thảm ở tỉnh Bayeux của Pháp vào năm 1066.

Tuy nhiên trong "Thiên luận" (bàn về trời), Tuân Tử (313-230 TCN) đã có những tư tưởng tiến bộ bác bỏ thuyết cho rằng sao chổi xuất hiện thì điều chẳng lành.

Những sự kiện bất thường xảy ra trên trời được cho là có ảnh hưởng tới những nhân vật và tiền đồ của cả nước và phải được ghi và theo dõi tỉ mỉ. Đó cũng là nhiệm vụ của nhà sử học đời nhà Chu (110 tới 481 TCN).

Bắt đầu từ thời Tây Hán (năm 206 TCN tới năm thứ 9 sau công nguyên) vì công việc của nhà sử học có phần bận bịu, nên nhiệm vụ thiên văn được tách rời và giqo phó cho các nhà chiêm tinh học. "Sao mới" hiện ra năm 185 (sau công nguyên) đã được coi là điềm xấu báo hiệu sự sụp đổ của triều Đông Hán.

Ai chểnh mảng trong công việc tiên đoán nhật thực và nguyệt thực đều có thể bị trừng trị. Để tránh sai lầm, những sự kiện phải quan sát thấy tại hai đài thiên văn mới được chấp nhận. Để xác định vị trí sao, vòm trời được chia thành 3 vòng và 28 "tú" như 28 múi cam. Sự chia vòm trời ra 28 túcó lẽ không phải là ngẫu nhiên mà để thuận tiện cho việc theo dõi vị trí của Mặt trăng. Vì tuần trăng vào khoảng 29 ngày và cứ vào khoảng 27 ngày thì Mặt trăng trở lại vị trí cũ trên trời.

Nhiều sách viết trong đời nhà Chu có thể cho là những triều văn hiến nhất của Trung quốc ở thời đại thượng cổ, tiếc thay đã bị đốt theo lệnh của Tần Thủy Hoàng vào năm 213 TCN. Mục đích của vụ đốt kho tàng văn hóa quý báu này là để thủ tiêu những thành tựu có thể làm lu mờ công trình của đời nhà Tần. Các thi sĩ đời nhà Chu đã đặt những câu hỏi về Vũ trụ. Trong những bài thơ, Trời được coi là Cửu trùng (chín tầng).

Từ thời Chiến Quốc (thế kỷ thứ 5 tới thứ 3 TCN) tới thời Đông Hán (thế kỷ thứ 3 sau công nguyên) vấn đề Vũ trụ đã được đề cập. Trong "Sử ký" mục "Thiên quan" của Tư Mã Thiên, một nhà thiên văn và chiêm tinh đời Tây Hán, năm 90 TCN, có đề cập đến nhiều vấn đề thiên văn như quỹ đạo của các hành tinh, thiên thạch, nguyệt thực và nhật thực.

Hiện tượng "tuế sai của phân điểm" làm điểm xuân phân di chuyển từ từ (1 độ trong 72 năm) trong cung hoàng đạo, ngược chiều chuyển động biểu kiến Mặt trời đã được phát hiện từ thế kỷ thứ tư bởi nhà thiên văn Ngu Hỉ và ghi trong cuốn "An Thiên Luận". Điểm xuân phân là mốc của tọa độ trên vòm trời nên hiện tượng tuế sai có ảnh hưởng đến sự xác định vị trí của các thiên thể. Nguyên nhân của sự di chuyển của điểm xuân phân là vì trục quay của Trái đất bị đảo làm trái đất tự quay lắc lư như một con quay.

Đến đời nhà Tống (960-1278), vị trí sao đã được xác định bằng những vòng đo hình cầu gọi là "hồn nghi" và "hồn tượng" (dụng cụ định vị trí và dạng hình thiên thể). Trong bộ Thông Chí Lược (năm 1150) có mục lục của hàng trăm tên sách đề cập những vấn đề như cấu trúc Vũ trụ, sự phân bố bầu trời ra những chòm sao, kỹ thuật đo lường với những dụng cụ thiên văn.

Thời gian của ngày, tháng, năm và nói chung là vấn đề làm lịch cũng là một trong những công việc được coi là quan trọng của nhà thiên văn thời xưa. Những lịch đầu tiên làm ở đời nhà Chu rất thô sơ và chỉ nói tới thời tiết và những tuần trăng. Đến đời nhà Đường, thế kỷ thứ 7, với sự cộng tác của các nhà thiên văn Ấn Độ ngụ tại Trung Quốc, việc làm lịch có phần hoàn hảo hơn.

Vào thế kỷ 13-15, đời nhà Nguyên và nhà Minh có cả sự cộng tác của các nhà thiên văn A Rập để đo vị trí các sao và lập ra lịch.

Từ thế kỷ 16 đời nhà Minh đến thế kỷ 18 đời nhà Thanh, nhờ sự phát triển của ngành toán học do sự phát triển của khoa học tây phương, thiên văn vị trí và hệ thống lập ra lịch lại càng chính xác.

Năm 1618, kính viễn vọng làm ở Tây phương lần đầu được mang sang Trung Quốc, và nguyên tắc cùng phương pháp sử dụng kính được trình bày trong "Viễn kính thuyết" (626). Nhật thực ngày 25 tháng 10 năm 1631 đã được quan sát bằng hai kính viễn vọng.


Nguyễn Quang Riệu


 


Ngày Hoàng đạo

'Dù có học vấn và kiến thức cao thâm đến đâu, hãy vẫn cảm thấy mình còn thấp kém cần học hỏi, như vậy trí tuệ mới ngày một thăng tiến'.

Một cái ly chứa đầy nước sẽ không bao giờ nhận được nước thêm nữa, nước sẽ tràn ra ngoài. Có cảm thấy mình còn yếu kém mới cần học hỏi thêm, bằng không sẽ trở nên tự mãn thì sẽ giống như con thuyền không chèo chống, nó bị sức nước đẩy lui về sau vậy.

Sách báo là phương tiện tôi luyện óc sáng tạo cho con người. Nó là người thầy dạy kiến thức ngoài trường đời và cũng là người bạn để giải buồn. Càng đọc sách báo để trau dồi trí tuệ thì nhân cách con người càng tao nhã, vì trí thức là một trong những điều kiện để phát huy tâm hồn cao thượng.

Sách là công cụ truyền bá văn hóa, báo chí là phương tiện truyền thông, là khí giới đấu tranh cho chân lý. Một bài viết hay một cuốn sách dầu có dở đi chăng nữa, người viết cũng đã lao khổ với những dòng tư tưởng của họ, họ cũng đã mất nhiều thời giờ suy ngẫm mới viết ra được. Nếu đọc sách báo với ác ý, châm chích thì tự mình đã bỏ mất một cơ hội tốt. Biết đâu từ trong đó mình thu nhận được những lời hay ý đẹp, ngoại trừ những sách báo dâm ô thì không kể.

Học giả Gibbon nói: 'Đọc sách để suy tư, chớ đừng đọc sách để khỏi suy nghĩ'.

Nên biết cách đọc! Có nhiều người đọc sách báo mà rốt cuộc không thu được lợi ích gì cho kiến thức của họ cả. Đó là những người chỉ đọc một đoạn đầu, một đoạn giữa và một khúc đuôi... rồi xếp quyển sách hay tờ báo lại, cứ tưởng rằng mình đã hiểu biết những gì trong sách báo truyền đạt. Người nào muốn đọc sách báo để thu nhận thêm kiến thức, để giúp cho óc phán đoán thì đừng bao giờ đọc theo cách này!

Có kẻ đọc sách báo để giải buồn, cũng có người đọc sách để tìm sự an ủi cho tinh thần khi bị đau khổ, mong tìm thấy sức mạnh thiêng liêng hầu giúp mình thêm can đảm nhẫn nại, vượt qua cảnh khổ của cuộc đời.

Cũng có người đọc sách báo để chứng tỏ ta đây là người hiểu biết thời sự nóng bỏng để tán gẫu trong lúc 'trà dư tửu hậu' hay 'cà phê luận' tại các quán sá. Đọc cách này, không những không có lợi cho kiến thức mà còn gây hại cho bản thân mình về sau, vì nó tạo cho mình thói quen nói dối khi bị 'bí' đề tài hoặc trình độ hiểu biết nông cạn.

Điểm tối kỵ là lợi dụng người chưa biết mình, tự tâng bốc, khoát lác ca tụng về sự hiểu biết của mình với hy vọng sẽ được cảm tình hoặc sự trọng nể của người đó. Đây là việc làm thiếu khôn ngoan nhất! Vì khi bị phát hiện là kẻ khoát lác, bản thân mình sẽ không còn đất dung thân, bị người cười chê suốt cả cuộc đời!




Sách báo là nơi tập trung tin tức, cập nhật những tư tưởng mới, những sáng kiến, những kinh nghiệm trong đời sống... Do đó đọc thường xuyên để học hỏi, tự trau dồi khả năng và kinh nghiệm là điều tốt.

Người tốt nghiệp ra trường hơn 10 năm về trước, nếu không biết tự học hỏi trau dồi kiến thức nghề nghiệp thì bằng cấp của người đó không còn có giá trị nữa, nó chỉ là tấm giấy lộn để người đó nhìn vào, mù quáng tin rằng mình có thực tài... là tự mình lừa bịp mình thôi! Khoa học ngày càng tiến bộ chớ không ngưng đọng!

Hãy tưởng tượng một kiến trúc sư ra trường vào thập niên 50, không đi làm việc đúng theo khả năng, không xem sách báo về ngành kiến trúc. Đến nay hơn 50 năm, kiến trúc sư này muốn hành nghề trở lại thì thật là... lỗi thời!

Một bác sĩ ra trường năm 1960, chỉ hành nghề tại phòng mạch mà không chịu tu nghiệp thêm, không đọc sách báo về y khoa, đến năm 2006 thử hỏi kiến thức y khoa của bác sĩ này như thế nào? Sẽ cho lầm thuốc hay nặng về liều lượng thì chỉ hại người hại mình!

Nghề võ cũng vậy, người mang đai nhị đẳng, nếu không tập luyện thường xuyên hay chịu khó theo dõi, trau dồi thêm kiến thức võ thuật trên sách báo thì sau 20 năm đầu óc người này trở nên lạc hậu. Bài quyền còn không nhớ, nói chi đến thi đấu? (không biết luật mới).

Tóm lại, đọc sách báo là việc tốt nhưng nếu biết suy luận và phân tích trong tinh thần học hỏi thì mới thực sự hữu ích hơn.

Ngày xưa các nhà thiên văn tưởng tượng vùng trời trong vũ trụ có một vòng tròn lớn gọi là vòng Hoàng đạo. Họ đem chia vòng này thành 360 độ, hai bên gọi là miền Hoàng đạo, dùng bốn quẻ chánh của Bát quái: Càn, Khảm, Ly, Khôn phân thành bốn phương (bốn mùa). Dùng Thập nhị Địa chi bố trí bốn phương để chỉ bốn mùa cho 12 tháng. Sau đó họ phân nạp 7 tinh tú vào mỗi phương. Mười hai Địa chi sắp xếp theo chiều kim đồng hồ, còn Nhị thập Bát tú thì ngược chiều kim đồng hồ. Do đó sao Phòng đóng ở cung Mẹo là Xuân phân, sao Tinh đóng tại Ngọ là Hạ chí, sao Mão đóng ở cung Dậu là Thu phân, sao Hư đóng tại cung Tý là Đông chí.

Sự chuyển động của Mặt trời và Mặt trăng là quan trọng hơn các tinh tú khác, nó gây ảnh hưởng lớn đến sự sống của vạn vật.

Sự chuyển động của Mặt trời tạo nên sự thay đổi khí hậu bốn mùa, nó cũng làm cho sự vận hành khí huyết trong cơ thể con người thay đổi theo. Thời tiết ấm áp của mùa Xuân thì khí huyết trong người dễ lưu thông, sông suối mạch nước dễ luân lưu. Ngược lại khí trời lạnh rét của mùa Đông thì khí huyết của con người bị ngưng trệ, mạch nước cũng bị đông đặc.

Sự chuyển động của Mặt trăng gây ảnh hưởng đến thủy triều và sinh lý của con người, nhất là những người đang mang những chứng bệnh nan y như phong cùi, ung thư, tê thấp... Ngoài ra nó cũng ảnh hưởng đến việc ăn uống của thú vật, đặc biệt loại thú rừng sinh sống về đêm.

Hệ thống vị trí của Nhị thập Bát tú được các nhà Thiên văn thiết lập theo quá trình xác định chuyển động của Mặt trời và Mặt trăng. Ngoài chuyển động của Mặt trời, Mặt trăng, sự vận chuyển của các hành tinh cũng tạo ra nhiều ảnh hưởng đối với vạn vật và đặc biệt nhất là đối với con người. Trong 5 hành tinh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ thì ảnh hưởng của Mộc tinh là lớn nhất. Người xưa gọi nó là Tuế tinh, khi xung nó tạo ra nhiều họa hại cho những mệnh nào bị chiếu. Ngày nay người ta biết khối lượng của thiên thể Mộc tinh lớn gấp 2.5 lần tổng khối lượng các hành tinh trong Thái dương hệ. Chu kỳ quay quanh Mặt trời là 12 năm, trong khoảng thời gian này Mộc tinh, mặt trời và trái đất ở vị trí khác nhau. Người ta cho rằng có thể nó là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc hình thành 12 kinh mạch trong thân thể con người.

Con người sinh sống trong sự vận chuyển của các hành tinh (vật đổi sao dời), nên cuộc đời mỗi con người mỗi khác vì ảnh hưởng của các lành dữ của các hành tinh đó...

Theo các chiêm tinh gia, ngày Hoàng đạo là ngày có nhiều cát tinh hội tụ nên tốt lành. Vì thế các nhà Thuật số chọn ngày này để khai trương, xuất hành, cúng kiến, an táng...

Ngày Hoàng đạo