Thăng Long dưới thời Phục Hưng của Đại Việt

Ngày đăng: 11/03/2010 00:00:00

Khoa cử, văn học thịnh đạt

Nếu tính từ khoa thi năm 1427 mà Lê Lợi cho tổ chức tại Dinh Bồ Đề (Gia Lâm), ngay trong những ngày còn đang kháng chiến chống quân Minh xâm lược, cho đến khoa thi 1526 mở giữa thời kỳ hòa bình thịnh trị, thì nhà Lê Sơ trước sau đã cho tổ chức 31 khoa thi, trong đó 30 khoa mở tại thành Thăng Long, lấy đỗ 1005 người, trong đó có 86 người Hà Nội. Có khi do đích thân nhà Vua ra chủ tọa kỳ thi và ra đề bình luận về các kế sách kiến thiết đất nước.



Nền điện Kính Thiên tại Thành cổ Hà Nội


Bến bãi Thảo Tân là địa danh chỉ vùng đất phía đông Hồ Hoàn Kiếm, cạnh bờ sông Hồng là một địa điểm thích hợp cho việc lập một trường thi rộng rãi, tiện tiếp đón cả các thí sinh vùng Kinh Bắc qua sông sang dự thi.


Thảo Tân nay là khu vực Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (sau gọi là bến Cổ Tân cạnh Nhà hát Lớn bây giờ). Chỉ đến thời Nguyễn, Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp, trường thi mới chuyển về địa điểm hiện nay còn mang tên là phố Tràng Thi.


Một vườn hoa nhỏ ở trước cửa trường Đại học Tổng hợp phố Lê Thánh Tông nay còn mang tên Vuờn Tao Đàn để nhắc nhở đến một thời văn học thịnh đạt, vua cho thành lập một câu lạc bộ mang tên Tao Đàn nhị thập bát tú, nơi hội họp để sáng tác, bình luận văn thơ của 28 ngôi sao trong bầu trời văn học nước nhà. 1 trong 28 ngôi sao đó chính là Vua Lê Thánh Tông, nhà vua say mê văn chương, là tác giả của Hồng Đức Quốc âm thi tập với hàng trăm bài thơ.


Đất Kinh Kỳ thời Lê còn ghi dấu đến ngày nay vụ thảm sát tru di tam tộc đối với anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi và bà Nguyễn Thị Lộ, vợ thứ của Nguyễn Trãi, nữ giáo thụ trong triều đình.


Sử chép ngày 1/9/1442, vua Lê Thái Tông sau khi đi duyệt binh ở Chí Linh đã ghé Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi. Bà Nguyễn Thị Lộ, Lễ nghi nữ học sĩ chuyên dạy cung nữ trong triều lúc bấy giờ cũng đang có mặt ở Côn Sơn. Vua bị cảm mạo, mất đột ngột. Cánh lộng thần lũng đoạn trong triều vốn bị Nguyễn Trãi tố cáo, lên án, nhân cơ hội ấy mới dựng chuyện vu cho Nguyễn Trãi thông đồng với Nguyễn Thị Lộ để ngầm giết vua bằng thuốc độc. Ngày 19/9/1442 (tức 16 tháng 8 âm lịch) cả gia tộc Nguyễn Trãi cùng với thân nhân họ mẹ, họ vợ bị đưa ra hành hình.


Hơn 20 năm sau, vụ án giết hại công thần Nguyễn Trãi, Vua Lê Thánh Tông thấu nỗi oan ức của ông, đã xuống chiếu minh oan cho ông, đánh giá tấm lòng trong sáng trung trinh ái quốc của vị khai quốc công thần là "Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo". Vị vua anh minh cũng ra quyết định tập ấm cho người con trai duy nhất còn lại của Nguyễn Trãi là Nguyễn Anh Vũ. Đồng thời cũng ra lệnh cấp cho di duệ họ Nguyễn một trăm mẫu ruộng để dùng vào việc thờ cúng Nguyễn Trãi. Ngôi nhà thờ ông còn tồn tại đến ngày nay, tọa lạc tại làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, nay đã thuộc Hà Nội.


Ngay từ xa xưa, một ngôi miếu khiêm tốn cũng đã được dân làng Thanh Trì thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) lập lên để hàng năm hương khói cho bà Nguyễn Thị Lộ. Năm 2007 vừa qua, ngôi miếu xưa cũng đã được tu bổ.


Thời đại Phục Hưng của Đại Việt


Triều Lê Thánh Tông là thời thịnh trị nhất của lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, cũng có thể được coi như thời đại Phục Hưng của Đại Việt, chứng kiến sự phát triển huy hoàng toàn diện của nước Việt.


Năm Ất Dậu (1465) tháng 11 Âm lịch, điện Kính Thiên được khánh thành trở thành ngôi Chính điện của triều Lê, nơi cử hành các nghi lễ quan trọng của cùng trong năm, điện Cẩm Đức cũng được khánh thành. Nhân dịp này, triều đình đã ban lệnh đại xá trong cả nước.


Phủ Trung Đô được Vua Lê Thánh Tông đặt năm 1466, đến 1469 được đổi tên là Phủ Phụng Thiên, vẫn quản lĩnh hai huyện Thọ Xương, Quảng Đức. Quan đứng đầu Phủ Phụng Thiên (khu vực hành chính đặc biệt) được gọi là Quan Phủ Doãn. Đến thời nhà Nguyễn, khi Kinh đô đã chuyển vào Huế, thì đứng đầu Phủ Phụng Thiên không phải là chức quan Phủ Doãn nữa, Phủ Phụng Thiên cũng phải đổi tên thành phủ Hoài Đức. (Hà Nội hiện có phố Phủ Doãn, là nơi có bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, cũng chính là khu vực trụ sở của Phủ Phụng Thiên thời Lê).


Năm Kỷ Sửu (1469) nhà Vua cho định bản đồ cả nước - Bản đồ nay đã thất lạc, chỉ còn bản đồ được vẽ lại 21 năm sau, năm Canh Tuất, được gọi là Hồng Đức bản đồ, in năm Hồng Đức thứ 30 (1490).


Giảng Võ Điện được xây trên núi Khán Sơn từ thời Lê Thái Tổ. Đến năm Tân Sửu (1481) Vua Lê Thánh Tông lại cho đào hồ Hải Trì bên điện Giảng Võ để làm nơi tập luyện binh trượng, thủy quân, cũng là nơi thao diễn quân sự ở Kinh đô.


Ngày nay, khu vực Giảng Võ (thuộc quận Ba Đình) vẫn còn tồn tại nhiều địa danh ghi dấu nơi xưa đã từng tồn tại một trường võ bị. Trạ Bảng (được cho là dịch âm của từ "trường bắn") với Trảng trên, Trảng dưới... Năm 1983-84 khảo cổ học còn phát hiện ở lòng hồ Ngọc Khánh một sưu tập các loại vũ khí đạn của thời Lê.


Sau khi Lê Thánh Tông mất, triều Lê bước vào suy yếu rất nhanh, do sự tha hóa của những người kế nghiệp. Điển hình là Vua Lê Tương Dực (1510-1516) ở ngôi chỉ được 6 năm, những "chơi bời xa xỉ, hoang dân vô độ, tiêu tốn không biết bao nhiêu của kho, sức lực của nhân dân" rót vào việc xây dựng các đền đài cung điện phục vụ cho nhu cầu hưởng lạc.


Năm 1512, Lê Tương Dực cho xây điện lớn hơn trăm nóc (Bách Ốc), rồi lại làm đài chín lớp (Cửu trùng Đài) rất nguy nga tráng lệ, huy động hàng nghìn người làm công sai. Người thiết kế là Vũ Như Tô, người xã Minh Quyết, huyện Cẩm Giàng, nay thuộc Hải Dương.


Năm 1516, Đô Tướng Trịnh Duy Sản nổi lên giết Vua Lê Tương Dực. Vũ Như Tô cũng bị Nguyễn Hoằng Dụ giết chết ở ngoài cửa Kinh Thành (ngày 7 tháng Tư Bính Tý). Cửu Trùng Đài và nhiều công trình kiến trúc khác bị san phẳng.


Nhiều thế lực phong kiến nổi lên tranh nắm quyền lực trong triều và ở các địa phương, dẫn đất nước đến một thời kỳ khủng hoảng.

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.