Tại sao nghề thêu gần như "biến mất" khỏi Thăng Long?

Ngày đăng: 08/12/2008 00:00:00


Những giá trị mới của tơ lụa Việt


Nghề thêu đã tỏa sáng ở đất Thăng Long, đó là một thực tế đã được ghi nhận. Sự tỏa sáng ở thời kỳ đầu, nghề thêu đã có những đóng góp quan trọng trong tiến trình phát triển của Thăng Long. Nhưng sự tỏa sáng của nghề thêu ở giai đoạn sau này, với những người làm nghề thêu mới là sự thay đổi đáng kể và quan trọng nhất. Ở giai đoạn này, những sản phẩm thêu đã trở thành hàng hóa phổ biến. Những gia đình làm nghề thêu không chỉ để kiếm sống và cầm cự giữ nghề, mà nhờ thêu, nhiều gia đình đã có cuộc sống sung túc và giầu có. Thế nhưng, sự hưng thịnh của nghề thêu ở đất Thăng Long cũng tồn tại không lâu và nó gần như “tắt lịm” ở những năm giữa thế kỷ 20, kéo theo sau là cái chết của cả một phố nghề.


Trong lịch sử hình thành và phát triển 36 phố phường Hà Nội, sự xuất hiện hay biến mất của một phố nghề là điều hết sức bình thường. Trong quá khứ, nếu một nghề nào đó ở Thăng Long không phát triển nữa, những hàng hóa khác sẽ lấn át và “tiêu diệt” chính cái tên của phố nghề mà nó đã mang trước đó. Sự biến mất một cách dễ dàng tên của một con phố vào thời kỳ trước bởi ngày đó, tên phố vẫn được gọi theo thói quen của hàng hóa, chứ chưa có văn bản cụ thể nào quy định rõ ràng tên của một con phố. Sau này, khi người Pháp chiếm đóng Hà Nội, những con phố được người Pháp đặt lại theo tên tiếng Pháp lạ hoắc, đôi khi chả có liên hệ gì với những hàng hóa đã gắn với con phố hàng trăm năm trước. Thế mới có chuyện một phố có hai tên, với hai cách gọi: một tên tiếng Pháp và một tên cũ mà người Hà Nội vẫn cứ quen gọi. Tuy nhiên, rất nhiều con phố sau ngày giải phóng đã mất hẳn tên và không thể khôi phục được nữa. Vì thế mà có nhà nghiên cứu Hà Nội mới tiếc hùi hụi khi nói rằng, nếu tính cả những phố nghề hiện tại và những phố nghề đã mất trong quá khứ thì Hà Nội có thể có tới… gần trăm phố nghề


 




Tên của rất nhiều con phố cổ đã đi vào lòng người dân Hà Nội, giờ chỉ còn là 
một cái tên "dân gian" và chỉ những người già cả, sống lâu năm
ở Hà Nội mới biết. ảnh internet.



Với những cụ già có tâm lý hoài cổ sống ở Hà Nội thì sự biến mất tên của một con phố cũng giống như việc Hà Nội mất đi một thứ gì đấy rất quý giá. Dĩ nhiên, sự biến mất tên của một số con phố xưa cũng là cái quy luật tất yếu. Hơn nữa, sau ngày Hà Nội được giải phóng, vì không muốn mất tên của những con phố cũ đã ăn vào máu thịt người dân, chính quyền Hà Nội cũng đã khôi phục tên một số tuyến phố. Tuy nhiên, sự khôi phục này cũng không thể tránh khỏi những mất mát. Và con phố Hàng Thêu (cùng với phố Hàng Trống, phố Hàng Tranh) chỉ vẻn vẹn dài khoảng 40 mét theo xu hướng chung khi ấy, cũng được gộp vào lấy tên chung thành phố Hàng Trống như bây giờ.

Quá trình hình thành và phát triển liên tục hơn 200 năm từ cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20 của phố Hàng Thêu so với một số phố nghề khác, cũng không phải quá “đoản mệnh”. Thế nhưng, việc mất hẳn tên một con phố cũng là điều đau đớn, đầy tiếc nuối với những người đã từng gắn bó với nghề thêu một thời.


Trước khi người Pháp vào Việt Nam khiến cho nghề thêu phát triển cực thịnh thì những nhà buôn người Ấn Độ đã đến đặt những mẫu mã cho những người thợ Thăng Long, khiến cho con phố Hàng Thêu trở nên sầm uất lắm rồi. Nghĩa là vào thời kỳ này, ngoài những sản phẩm người thợ thêu làm phục vụ cung đình và các các sản phẩm phục vụ nghi lễ truyền thống thì hàng thêu ít nhiều cũng đã sản xuất những sản phẩm phục vụ cuộc sống. Đến khi người Pháp hoàn thành xâm lược nước ta, với chính sách khai thác những nghề thuộc địa, rất nhiều nghề thủ công nhờ đó mà phát triển. Riêng với nghề thêu, người Pháp còn mang vào rất nhiều nguyên liệu như ren, chỉ và rất nhiều mẫu hoa văn mới lạ. Chính việc làm theo thị hiếu của người Tây, mà cụ thể ở đây là người Pháp, kết hợp với những nguyên liệu mới và bàn tay khéo léo của người thợ Thăng Long mà hàng thêu Việt Nam thời gian này còn độc đáo hơn cả hàng thêu Trung Quốc về mầu sắc, hoa văn và sự phá cách.


 












Hổ - một bức tranh thêu nổi tiếng ở phố Hàng Trống. ảnh internet.



Theo nhà nghiên cứu văn hóa Hà Nội Giang Quân thì giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, nghề thêu ở Thăng Long còn phát triển đến nỗi, để thỏa mãn những đơn đặt hàng của mẫu quốc Pháp và vơ vét được thật nhiều của cải, Tổng Đốc Hà Đông khi ấy là Hoàng Trọng Phu đã lập ra rất nhiều xưởng thêu ở Hà Đông. Sự hình thành rất nhiều xưởng thêu ở khu vực ngay cạnh Hà Nội đã không đẩy những người thợ phố Hàng Thêu tới cảnh thất nghiệp, mà trái lại, nó đã đưa nghề thêu Việt Nam thời kỳ ấy sang giai đoạn bùng nổ của hình thức sản xuất hàng hóa.

Cụ Đỗ Thị Ngát, người nửa thế kỷ đã trông nom Tú Thị Đình, ngôi đình thờ ông tổ nghề thêu Việt Nam ở Số 2 Yên Thái (Hà Nội) kể: Khi bố và ông nội của bà còn sống, họ vẫn kể về phố Hàng Thêu và chợ hàng thêu (Tú Đình Thị) những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đã phát triển sầm uất như thế nào. Ngày ấy, những thợ thêu trong gia đình bà làm không hết việc, bởi người Pháp khi ấy có nhu cầu sử dụng các sản phẩm thêu rất phổ biến. Rất nhiều đồ dùng như chăn, gối, khăn trải bàn, khăn ăn, giày, quần áo, đến những đồ trang trí như tranh tam đa, tranh phong cảnh, tranh truyền thần… tất cả người Pháp đều mướn những thợ thêu làm trang trí. Rất nhiều gia đình làm nghề thêu khi ấy đã trở nên giầu có vì làm thêu thuê cho người Pháp. Thời kỳ này Thăng Long cũng xuất hiện rất nhiều nghệ nhân thêu giỏi nghề, có thể thêu ra những bức tranh phong cảnh hay tranh truyền thần giống y như khuôn mẫu – việc mà thợ thêu bây giờ khó mà sánh kịp.


Tuy nhiên, đến đời của cụ Ngát thì nghề thêu ở Hà Nội bắt đầu đi xuống. Lúc này, lính Nhật cũng đã vào Đông Dương và dân ta phải sống trong cảnh một cổ hai tròng. Người Pháp lúc này mải lo chống trả người Nhật và vơ vét tài nguyên nên nghề thêu và các nghề thủ công khi ấy cũng không còn cơ hội phát triển nữa. Nhất là vào năm 1945, khi ấy bà mới 10 tuổi, Nhật đảo chính Pháp thì nghề thêu biến mất hoàn toàn. Ngôi đền Tú Đình Thị vốn là chợ hàng thêu ngày nào cũng họp, nhưng từ khi xuất hiện người Nhật thì không còn ai đem hàng ra bán nữa. Người Hà Nội lúc này cũng không còn ai làm hàng thêu, bởi nhiều người sợ chiến tranh và nạn đói đã tìm cách đi sơ tán hết.


 




Sau mấy đời hưng thịnh với nghề thêu, đến đời cụ Ngát, nghề thêu đã gặp khó khăn
khiến cụ không thể theo nghề. Bây giờ, ngày ngày bán nước trước ngôi đền thờ ông tổ nghề,
bà vẫn luôn đau đáu một cảm giác có tội với tổ tiên. Ảnh Trọng Tuyến


Sau này,theo hồ sơ  về nghề thêu Thăng Long của Tập đoàn Hiệp Hưng, tập đoàn đang nỗ lực sư tầm và tái tạo lại các mẫu thêu cổ thì " khi Hà Nội giải phóng, một số gia đình nghề thêu đi sơ tán trở về vẫn làm nghề nhưng muốn bán, họ phải đem hàng ra ký gửi cho những cửa hàng trên phố Hàng Nón, Hàng Bông, Hàng Chỉ… Những sản phẩm thêu lúc này lại trở về những sản phẩm truyền thống phục vụ đình chùa và các nghi lễ nên cũng không có mấy người mua. Vì vậy mà hầu hết người làm thêu đều chuyển qua những nghề khác kiếm sống. Con phố Hàng Thêu sầm uất là thế cũng dần chìm vào quên lãng"



Vì thế mà sau này, khi chính quyền Hà Nội mới đặt tên cho các con phố, đã gộp luôn phố Hàng Tranh, phố Hàng Thêu và phố Hàng Trống thành một con phố Hàng trống duy nhất. Điều đáng buồn tương tự cũng xảy ra với nhiều con phố khác như: Phố Hàng Bột (đoạn từ Văn Miếu đến Ô Chợ Dừa) chuyển thành phố Tôn Đức Thắng hay phố Hàng Lọng (đoạn từ phố Nguyễn Thái Học đến Ga Hàng Cỏ) thành đường Lê Duẩn…


Bây giờ, trong đám con cháu của mình, cụ Ngát cũng không truyền được nghề cho ai nữa. Các con cháu của cụ người thì làm công chức, người đi bán hàng cơm. Bản thân cụ, từ khi đi sợ tán trở về, cụ cũng không trở lại với nghề thêu thùa nữa, dù biết là như thế thật có tội với tổ tiên. Ngay cả sau này, khi đất nước đi lên Xã hội Chủ nghĩa, phong trào Hợp tác xã nghề thêu mở ra khắp nơi, thu hút hàng vạn người tham gia, nhưng bà Tười cũng nhất quyết không trở lại với cây kim mũi chỉ nghề thêu, mà lại chuyển sẳn sang kiếm sống bằng việc mở quán nước trà. Và, dù không còn làm nghề thêu, nhưng năm nào, vào ngày giỗ tổ, ngày 12 tháng 6 âm lịch, bà vẫn làm lễ thắp hương thể hiện công ơn của vị tổ nghề của cha ông. Bà bảo, bà rất tủi và cảm thấy có tội vì không theo được nghề và truyền được của tổ tiên cho ai, nhưng mỗi khi về quê ở làng Quất Động (Thường Tín, Hà Nội) thấy người dân ở quê nhà vẫn còn đau đáu với nghề, với cây kim mũi chỉ thì bà lại thấy vui, thấy như được an ủi phần nào…



 


Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.