Phát hiện mộ chí một nhà thơ người Việt Nam đời Đường tại Tây An, Trung Quốc

Ngày đăng: 05/05/2008 00:00:00


(Dịch tóm tắt như sau:

“ Ngày hôm qua, 24/02/2008, ông Trương An Hưng, Phó nghiên cứu viên kiêm Phó trưởng ban bảo quản Viện Bảo Tàng Bi Lâm (quận Bi Lâm, Tây An) thông báo: Bảo Tàng mới vừa phát hiện một tấm mộ chí đời Đường từ dưới lòng đất vùng nông thôn quận Trường An, giáp ranh địa bàn huyện Lam Điền và quận Nhạn Tháp (đều là đơn vị hành chánh trực thuộc thành phố Tây An) và đưa về Bảo tàng cất giữ.

Qua khảo sát bước đầu, tấm mộ chí này có niên đại thời Trung Đường, hình vuông, mỗi cạnh độ 40 cm, khắc tên, quê quán và sơ lược thân thế của mộ chủ là:
LIÊU HỮU HƯƠNG (廖有方), quê quán: huyện Giao Chỉ, thuộc Đại Đường An nam Đô hộ phủ (tức Bắc bộ Việt nam ngày nay), thời niên thiếu tại Giao Chỉ nổi tiếng văn chương (nguyên văn: văn bút văn Giao Chỉ “文笔闻交趾”), sau lưu học Trung nguyên, đỗ tiến sĩ năm Nguyên Hòa thứ 11, đời Đường Hiến Tông (năm 816 CN), được bổ nhiệm làm huyện lệnh huyện Vân Dương, thuộc phủ Kinh Triệu ( nay thuộc quận Trường An, thành phố Tây An), sau làm chức Hiệu thư lang tại triều đình..

Thời còn thanh niên, chưa đỗ đạt, Liêu Hữu Phương có dịp làm quen với nhà thơ nổi tiếng Liễu Tông Nguyên (773-819), và được đại gia họ Liễu đối xử rất trân trọng, hai bên có trao đổi thi văn và Liễu đã từng tán tụng văn thơ của Liêu là “đạt nguyên tắc đại nhã” (1). Thơ Liêu Hữu Phương được thu thập trong Tòan Đường thi. Một người trẻ tuổi xuất thân từ miền biên viễn mà đạt được thành tích như thế, so với người đương thời quả là hiếm có vậy (一个偏远边疆的青年能有此作为在当时是不多见的)。

Ông Trương An Hưng còn cho biết: “Liêu Hữu Phương không chỉ tài hoa mà còn nổi tiếng là người hào hiệp, có nghĩa khí, được sử sách nêu danh. Sách Thái Bình Quảng Ký còn ghi chép việc Liêu Hữu Phương bán ngựa để lấy tiền an táng một hàn sĩ. Việc xảy ra như sau: năm Nguyên Hòa thứ 10 (815 CN), Liêu Hữu Phương thi rớt tiến sĩ, bèn đi du lịch vào đất Thục, tại một quán trọ bên ngoài thành Bảo Kê, Liêu gặp một anh học trọ nghèo đang bị bệnh nặng ở đó. Người này cho Liêu biết anh ta ôm chí họan đồ, đã nhiều lần ứng thí nhưng đều lạc đệ (rớt), tiền mất tật mang, nay lưu trú quán trọ không tiền chạy chữa. Liêu thương tình bỏ tiền cứu trị, nhưng anh ta bệnh nặng quá không thể qua khỏi. Liêu bèn bán cả ngựa và bộ yên cương để lo hậu sự cho anh ta, sau đó ra đi. Về sau người nhà của anh học trò cảm nghĩa báo tặng rất hậu nhưng Liêu một mực tù chối. Từ đó Liêu Hữu Phương được cả triều đình và nhân dân khắp nơi xưng tụng là Nghĩa sĩ.” (hết đọan dịch bài báo)

( Nguyên văn bài báo trên xem ở :
[
www.changanren.com]

LIÊU HỮU PHƯƠNG là thi sĩ đời Đường gốc người Việt Nam(2) duy nhất có tên trong Tòan Đường thi, bên cạnh 2352 tên tuổi khác, với duy nhất một bài thơ. Tuy nhiên, Liêu Hữu Phương đích thực là thi sĩ vì ông có ít nhất là một tập thơ, đã từng được đại thi sĩ Liễu Tông nguyên đề tựa, và Liễu Tông Nguyên, trong một bức thư khác đã không ngần ngại gọi Liêu là một thi nhân, hơn nữa một thi nhân hiếm có. Bài thơ của Liêu Hữu Phương như sau:
题旅榇一作葬宝鸡逆旅士人铭诗)】廖有方

嗟君没世委空囊
几度劳心翰墨场
半面为君申一恸
不知何处是家乡

Tạm dịch: Đề trên quan tài nơi quán trọ (còn gọi là : Thơ làm lúc an táng người hàn sĩ nơi quán trọ thành Bảo Kê)(3) (Tòan Đường thi, bài 7, quyển 490)

"Ôi bác từ trần, túi nhẵn không !
Bao phen khoa cử hóa long đong.
Sơ giao luống nặng lòng thương xót,
Quê bác nơi nào mà ngóng trông?'."

Bài tựa nhà thơ Liễu Tông Nguyên gởi cho Liêu Hữu Phương như sau:
送诗人廖有方序

交州多南金珠玑毒瑁象犀其产皆奇怪至于草木亦殊异吾尝怪阳德之炳耀独发于纷葩瑰丽而罕钟乎人今廖生刚健重厚孝悌信让以质乎中而文乎外为唐诗有大雅之道夫固钟于阳德者耶是世之所罕也今之世恒人其于纷葩瑰丽则凡知贵之矣其亦有贵廖生者耶果能是则吾不谓之恒久也实亦世之所罕也

Dịch :
"Giao-Châu có nhiều vàng Nam, ngọc châu, đồi-mồi, tê-ngưu và voi, sản-vật đều kỳ dị, cả đến cây cỏ cũng khác lạ. Ta thường lấy làm lạ vì sao khí chói sáng của Dương-Đức (Trời) chỉ phát tiết ở hoa cỏ ngọc ngà mà thôi, ít thấy chung đúc ở người. Nay Liêu-Sinh có đức-tính cương-thiệp trọng-hậu, thảo-thuận, tin nhường, bên trong thì phác thực mà bên ngòai thì hào hoa, thơ-văn đạt đạo đại-nhã. Như thế thì Liêu sinh đã được chung đúc bởi khí thiêng chăng? Đời như thế thật hiếm có vậy. Thế thường người đời nay, đối với ngọc sáng hoa thơm, ai cũng biết quý, nhưng có ai biết quý trọng Liêu sinh như vậy chăng? Nếu có, thì ta bảo người ấy không phải người thường, đời cũng rất hiếm có vậy" (Toàn Đường văn, Quyển 575, Liễu Hà Đông tập)

Câu chuyện về Liêu Hữu Phương bán ngựa giúp người nghèo có thể tìm đọc trong Thái Bình Quảng Ký, nhưng tốt nhất là đọctrực tiếp trong Vân Khê Hữu nghị của Phạm Sư (vì Thái Bình Quảng Ký chép tóm theo Vân Khê hữu nghị), bạn cùng thời của nhà thơ Phương Can (808-865), ghi chép rất rõ ràng và đáng tin cậy vì Phạm Sư sống cùng thời với Lưu Hữu Phương (truyện Liêu Hữu Phương trong Vân Khê hữu nghị, bản của nhà xuất bản Thương hải cổ tịch năm 2000 là đầy đủ nhất, truyện có tên là Danh nghĩa sĩ, quyển hạ, trang 1305-1306)

________________________________________________________________________
Chú thích:

(1) Nguyên văn “ đại nhã chi đạo”, tức 3 nguyên tắc trong làm văn là “đạm, giản , ôn”, được diễn dịch từ sách Trung Dung là : nhạt mà không chán, đơn sơ mà mỹ lệ, nhẹ nhàng mà lý lẽ mạnh mẽ”- LHN chú

(2) Theo mộ chí thì quê quán Liêu Hữu Phương là Giao Chỉ thuộc An nam Đô hộ phủ quản hạt, tức là huyện Giao Chỉ, theo Tân Đường Thư thì huyện Giao Chỉ ở cách thành Tống Bình tức Hà Nội hiện nay 40 dặm về phía tây Bắc, vậy thuộc địa bàn thị xã Sơn tây, tỉnh Hà Tây hiện nay.

(3) Một số người dịch bài thơ này cho rằng Bảo Kê là tên quán trọ, thậm chí có người dịch là quán “Gà quý” (the Precious Chicken Inn, như Keith Taylor trong the Birth of Vietnam), kỳ thực Bảo Kê là tên một cổ thành , nay là thành phố Bảo Kê, cách Tây An 150 km về phía tây, giao điểm của đường quốc lộ Thiểm Xuyên và đường sắt Thành-Bảo (Thành Đô-Bảo Kê)

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.