Làng cổ nghìn năm và lái buôn cổ vật

Ngày đăng: 24/12/2009 00:00:00


Huyền thoại vùng đất cổ

Quỳnh Hoa có 3 làng cổ là Tiên Đội, Phú Mỹ và Hữu Vĩnh. Vùng đất này sát kề vùng đất cổ Quỳnh Lâm và di chỉ văn hoá Quỳnh Văn, chỉ cách di chỉ văn hoá làng Vạc (Nghĩa Đàn) hơn 10km. Đây là một vùng đất cổ có cư dân sinh sống từ rất lâu đời. Bằng chứng là các di chỉ cồn sò, điệp thuộc loại hình văn hoá thời sơ khai còn tìm thấy ở mảnh đất này.

Cùng với niên đại văn hoá Quỳnh Văn, làng Quỳnh Hoa ngày nay được xác định là có ít nhất ở thời kỳ đồ đá, tức là cách ngày nay khoảng 6.000 năm. Cư dân nguyên thuỷ sinh sống thành từng bộ lạc ở vùng lõm, đồng lầy dọc bờ biển. Chính bằng lao động của mình, những chủ nhân cổ xưa trên mảnh đất này đã “khai thiên phá thạch”, vật lộn với thiên nhiên, tạo nên một kỳ tích, hình thành vùng đất và hình thành cộng dân cư thời xa xưa.










Ông Lê Công Hới: "99 cái giếng cổ cùng 99 cây thị trồng bên cạnh".



Dưới triều Nguyễn, Quỳnh Hoa có tên gọi là Phù Hoa. Năm 1803, triều Nguyễn (Gia Long) khi đắp đường quan mới thấy đây là vùng đất giàu, đẹp nên gọi là Phú Mỹ. Năm 1954 đến nay lập xã mới, đổi tên là Quỳnh Hoa. Nơi đây, trên 200 năm trước, trong cuốn “Quỳnh Lưu phong thổ ký” (trang 11) tác giả Hồ Tất Tố đã mô tả: “Hàng cau bẹ lá xanh rờn trông như lọng, như tán rợp trời che bóng”. Đây là vùng đất trầm tích, sa phiến và phiến sét làm thành cát mịn “tạo nên đường nét mềm mại”. Ngày xưa, đất này được gọi là đất Hồ Long.

Người dân nơi đây bao đời nay truyền khẩu câu chuyện rằng: Trước khi thống nhất đất nước và đánh tan hàng chục vạn quân Xiêm và Thanh, Nguyễn Huệ (Quang Trung) định dời đô về Phù Hoa. Lúc bấy giờ Phù Hoa đã có 100 cái giếng và có nhiều cây thị to, đẹp. Một hôm, có 100 con phượng hoàng thấy giếng trong mát rủ nhau xuống tắm. Tắm xong, mỗi con phượng hoàng đều bay lên mỗi cây thị đậu. Lúc bấy giờ, Phù Hoa mới có 99 cây thị (tiếc rằng nay chỉ còn 3 cây thị cổ), một con phượng hoàng nữa không biết đậu vào đâu liền cất cánh bay. Thế là cả đàn cùng cất cánh bay theo vào đất Hồng Lĩnh. Nhưng Hồng Lĩnh cũng chỉ có 99 ngọn núi. Nên cả đàn mới bay vào đất Phượng Hoàng Trung Đô (Thành phố Vinh -  Nghệ An bây giờ).

Câu chuyện thấm màu cổ tích đó vẫn lưu lại cho đến ngày nay với những vết tích thật trùng khớp. Theo chân ông Võ Công Hỡi, ở xóm 4, chúng tôi tìm đến những cây thị và giếng cổ ở Quỳnh Hoa. 99 cây thị cổ thụ trong sử sách chỉ còn lại 3 cây. Theo qua sát của chúng tôi, đường kính mỗi thân cây thị này khoảng 2m, cao trên 10m, tán lá rộng phủ rợp cả một diện tích gần 200m2.

Địa bàn phân bổ giếng cổ ở Quỳnh Hoa rất rộng, nhưng nhiều nhất tập trung ở 2 thôn Phú Mỹ và Hữu Vịnh. Trước đây có gần 100 giếng, được đào theo sơ đồ như sau: cắt ngang trục đường chính giữa làng có chừng 20 hàng giếng, hàng nọ cách hàng kia 120m và mỗi hàng như vậy có khoảng 5 giếng. Đáng tiếc là ngày nay người dân đã phá bỏ khá nhiều những cái giếng này.

Đứng bên giếng Viết, nằm bên vệ đường ở xóm 4, ông Lê Công Hỡi cho chúng tôi biết: “Các giếng ở đây được xây bằng đá vôi, loại đá bản địa, đoạn dưới đáy được ghép bằng gỗ lọi. Điều kỳ diệu là loại gỗ này ngâm dưới nước hàng trăm năm mà không vấn đề gì, càng ngấm nước càng bền. Điều đặc biệt là các giếng này không bao giờ cạn nước, kể cả những năm nắng hạn gay gắt”. Thật kỳ lạ nếu biết rằng Quỳnh Hoa nằm trên địa hình đá cao.













Ông Viễn với cổ vật cày được đã đem bán.


Cổ vật rời làng

Khoảng chục năm trở lại đây, thỉnh thoảng lại có người giàu phất lên nhanh chóng. Mọi chuyện có vẻ khá đơn giản. Đi làm đồng bỗng có người vứt cày cuốc ôm khư khư vật gì đó chạy về nhà, một tuần sau tự nhiên sắm sanh đồ dùng gì đó đáng tiền thì đích thị là đã đào được cổ vật.

Dường như dưới nền đất xã Quỳnh Hoa có cả một kho cổ vật. Bên cạnh chuyện người dân địa phương thỉnh thoảng lại đào được khi thì đôi chiếc ấm, chén lấm lem bùn đất, lúc lại mấy lưỡi rìu đồng gỉ xám đen, còn có hẳn một đội quân đông đảo không biết từ đâu đến đóng vai... mua sắt vụn lăm lăm máy dò kim loại lùng sục khắp xã hơn mười năm nay.

Bà Võ Thị Thảo năm nay đã 80 tuổi -  làng Phú Mỹ -  kể lại: “Cách đây gần chục năm, có hai người vào nhà tôi, xin được tìm sắt vụn. Họ mang theo cả máy móc để tìm. Hì hục dò rồi đào cả buổi chiều thì tìm được cái hũ gì đó, to lắm. Trả tiền cho chủ nhà mấy trăm rồi ù ù ôm chạy”.

Bà Thảo kể rằng các đồ ấm chén, thậm chí cả mâm đồng được đào lên không phải là chuyện hiếm ở làng. Trước đây dân làng không biết hết giá trị của mấy thứ đồ cổ dưới đất nhà mình, có tình cờ bắt được thì cũng đem bán đồng nát hay cho trẻ con chơi. Những thứ đồ này, không cần phải đào sâu mà nó chỉ nằm nông ở dưới đất. Có người đào xợt xợt trồng cây ở góc nương lại đào ra cái ấm.














Những giếng ở đây rất nông, lại được làm ở vùng địa hình cao nhưng không bao giờ hết nước.



Về vấn đề cổ vật rời làng, ông Hỡi cho biết cách đây chưa xa, người Quỳnh Mỹ, Quỳnh Tân (huyện Quỳnh Lưu) thường xuyên mang theo máy dò kim loại về Quỳnh Hoa để dò tìm di chỉ tiền nhân. “Thế không ai ngăn cản à?”-tôi hỏi. “ Dân có biết giá trị những thứ đồ ấy đâu mà ngăn, số tiền họ cho còn hời gấp trăm lần bán đồng nát”.  Cũng theo lời ông Hỡi, có lần một đầu nậu ở xã Quỳnh Mỹ đưa máy dò kim loại về tìm được chiếc chiêng đồng có đường kính lớn gần 1m, với rất nhiều hoa văn đẹp. “Nghe dân Quỳnh Mỹ kể, lão tìm đồ cổ đó bán cái chiêng với giá gần 50 triệu đồng”, ông Hỡi nhớ lại.

Trong rất nhiều người chúng tôi đã gặp tại Quỳnh Hoa, câu chuyện về những cổ vật lặng im hàng bao nhiêu thế hệ, âm thầm ẩn chứa biết bao câu chuyện vô giá của người xưa được họ kể lại như điều rất đỗi bình thường. Dân làng Quỳnh Hoa ai cũng biết đến ông Lê Văn Viễn, 60 tuổi, nhà ở xóm mới dưới chân cồn đá, nổi tiếng là người cày được nhiều cổ vật. “ Có lần đào được cái ấm tui bán với giá... 30.000 đồng đó”, ông hồn nhiên nói và chúng tôi cũng tròn mắt. Cổ vật người xưa đã lấm lem và “rớt giá” đến thế kia ư? Rất nhiều cổ vật được cày lên đều được ông bán với giá rẻ mạt như vậy.

Ở mảnh đất cổ này người ta không chỉ có đào được những đồ dùng bình thường trong sinh hoạt của cuộc sống thường ngày của người xưa. Thậm chí mấy năm trước có người ở xóm 1 đã từng đào được cả thuyền độc mộc. Như vậy để biết cộng đồng người sơ khai đã từng phát triển sầm uất như thế nào ở nơi đây. Vậy mà đến hôm nay, trên nền đất tiền nhân khai phá, xã đã mở mang thành 12 xóm với 1.240 hộ và 5.692 khẩu.










99 cây thị nghìn năm tuổi như thế này giờ chỉ còn 3 cây sống sót.



Qua bao thăng trầm và sự bào mòn của một quãng thời gian quá dài, khi lịch sử tìm về hiện tại qua những di chỉ, cổ vật biết nói lộ thiên, thì đáng buồn thay bởi sự thiếu ý thức và quan tâm của người đương thời đã để người xưa một lần đi mãi, không còn có thể tìm lại được.

Không biết rồi mai đây Quỳnh Hoa có còn là “vùng đất cổ” khi những di sản văn hóa nơi đây chỉ còn trong lời kể.

Bài viết cùng chuyên mục

Cửu đỉnh được coi như biểu trưng và là pháp khí của triều đình nhà Nguyễn đương thời.

Ở trước Hiển Lâm Các - đối diện với Thế Miếu trong Đại Nội Huế có 9 cái đỉnh đồng lớn, gọi là 9 đỉnh Triều đại. Dân gian thường gọi là Cửu Đỉnh. Mỗi cái nặng trên dưới 2 tấn, được khởi đúc từ cuối...

Các bức ảnh ghi lại việc thiết lập hành chính cũng như đời sống phong phú của người dân Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa.

Tư liệu quý khẳng định chủ quyền Trường Sa – Hoàng Sa

Mộc bản triều Nguyễn gồm 34.618 tấm với 55.318 mặt khắc, chứa đựng nội dung của 152 đầu sách với 1.935 quyển.

Dưới triều Nguyễn, do nhu cầu phổ biến rộng rãi các chuẩn mực của xã hội, các điều luật bắt buộc thần dân phải tuân theo, để lưu truyền công danh sự nghiệp của các vua chúa, các sự kiện lịch sử...,...

Chùa Một Cột nằm trên phần đất thôn Phụ Bảo, tổng Yên Thành cũ. Đến giữa thế kỷ XIX thôn này đã hợp nhất với thôn Thanh Ninh và mang tên mới là Thanh Bảo. Đây là một ngôi chùa có kiến trúc hết sức...

GiadinhNet - Xã Cao Thắng vẫn còn dấu tích của một công trình kiến trúc được xây dựng bằng đá ong độc đáo đã bạc màu thời gian.

Mùa Xuân Canh Tuất (1010) tại kinh đô Hoa Lư, triều thần suy tôn điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế thay thế nhà Tiền Lê. Tháng 7, vua hạ chiếu dời đô về thành Đại La với lý do:...

Cửu Đỉnh ở Huế đang được Nhà nước Việt Nam xét duyệt để công nhận là một bảo vật quốc gia. Trên bộ tác phẩm nghệ thuật bằng đồng này, phần lãnh hải của Việt Nam đã được cổ nhân lưu lại một cách cụ...