Kiêng kỵ khi bố trí nột thất

Ngày đăng: 14/08/2008 00:00:00

Đặt bài vị vào năm Tí, năm Sửu, năm Dần, năm Hợi, dứt khoát phải kiêng quay mặt về hướng bắc.


Đặt bài vị vào năm Mão, năm Thìn, dứt khoát phải kiêng mặt quay về hướng đông.


Đặt bài vị vào năm Tỵ, năm Ngọ, năm Mùi, dứt khoát phải kiêng quay mặt về hướng nam.


Đặt bài vị vào năm Thân, năm Dậu, năm Tuất, dứt khoát phải kiêng quay về hướng Tây.


Kiêng kỵ khi tìm nơi chôn cất.


Người Trung Quốc xưa có quan niệm riêng về chọn nơi chôn cất. Trong cuốn Mặc Tử - tiết táng có ghi:


“Áo quan dày ba tấc, đủ để rửa xác; quần áo mớ ba đủ để che đậy. Còn như chôn cất, phía dưới không được có nước mạch, phía trên không thông với mùi xứ uế ở trên mặt đất, nếu có ruộng nước thì thôi”.


Sách này dẫn ra khi chọn đất để chôn cất, chuyện được phúc cho hậu đại là có thể thấy trước. Thời Chiến quốc, em trai Tần Huệ Vương tên là Tật, khi còn sống đã chọn đất ở phía đông Chương Đài, Vị Nam, làm đất phần mộ cho mình và quả quyết rằng một trăm năm sau sẽ có cung điện của Thiên tử ở hai bên mộ mình. Quả nhiên, đến đời Hán, có cung Trường Lạc ở phía đông, cung Vị Ương ở phía tây mộ. Do đó, người ta căn cứ vào nơi để mộ - làng Sơ Lý - Vị Nam, đặt tên cho Tật là Sơ Lý tổ, và thờ làm Tổ sư thuật tướng trạch.


Theo cuốn “Cửu ca thập quyết” có các điều kiêng kỵ về đất như sau:


* Đất có mười điều không được táng:


Không táng nơi có đá tảng lổn nhổn.


Không táng nơi nước xiết, đầu ghềnh.


Không táng nơi rãnh cụt, cảnh tuyệt.


Không táng nơi núi đơn côi.


Không táng nơi thần trước miếu sau.


Không táng nơi xung quanh tù hãm.


Không táng nơi nùi đồi tản mạn.


Không táng nơi phong thủy buồn thảm.


Không táng nơi dưới chỗ táng địa hình thấp nhỏ.


Không táng nơi thủy khẩu bế tắc.


* Đất có mười điều nghèo phải kiêng như sau:


Thủy khấu không khóa.


Thủy rơi vào không vong.


Cửa thành vỡ lỡ.


Nước phá vỡ cái chắn, chảy tuột đi.


Sau lưng gió thốc.


Tứ thủy đều không có tình.


Nước phá thiên tâm.


Nước cười róc rách.


Nhìn bốn phía không chỗ nào hưởng ứng.


Độc long.


* Đất có những điều hèn phải kiêng tránh:


Bát phong (tám phong) thổi vào huyệt.


Chu tước tiêu sách.


Thanh long bay đi.


Lúc đầu cong đuôi.


Thủy khấu chảy đi đôi ngả.


Trước sau  gió thổi xuyên qua.


Tả hữu đều không có gì.


Núi lở, nứt vỡ.


Có chủ không có khách.


* Đất có những điều sợ phải kiêng tránh:


Long, sợ hung bạo. Huyệt, sợ khô lạnh.


Sa, sợ quay lưng lại (phản bội).


Huyệt, sợ gió thổi.


Núi, sợ khô cằn nát vụn.


Nước, sợ chảy thẳng.


Sa, sợ nước tống đi như chuột chạy.


Thủy, sợ phân cục chảy nghiêng.


Núi đối diện với nhau, sợ ưỡn ngực.


Long hổ, sợ chèn ép huyệt.


* Đường (minh đường) sợ lệch lạc, phía trước sợ có giếng cạn, phía sau sợ có nhà cao hơn.


Ổ huyệt, sợ bức bối.


Đỉnh núi, sợ bát sát (tám sát).


Thủy, sợ kiêm bát sát.


Núi sợ tọa tiết quy.


Minh đường, sợ quá thoáng.


Trước huyệt, sợ trụng trai.


Lai mạch, sợ thừa sát.


Cao thì sợ tổn thương thổ ngưu.


Thấo sợ mạch thoát khí.


Mạch sợ lộ thai, sợ mòn đinh, sợ ướt đầu, sợ chặt chân.


Huyệt sợ thừa phong, quan tài, sợ ải tử.


Long, sợ nổi sóng. Hổ, sợ thử đường.


Trên la bàn sợ hai chữ kim.


Lập huyệt thừa khí, sợ hỏa khanh.


* Như vậy, đất táng muốn tốt cho hậu thế phải có một số điểm sau:


Phải hóa sinh khai trưởng.


Phải hai tai chọc trời.


Phải râu tôm mắt cua.


Bên trái bên phải lượn vòng.


Thượng hạ tam đình.


Phải sa cước (chân sa) dễ xê dịch.


Minh đường sáng sủa.


Phải thủy khấu che chắn.


Mình đường đón dương.


Phải chín khúc quanh co.


* Đất có mười điều phát phú:


Minh đường cao to.


Chủ khách ăn ý.


Giáng long phục hổ.


Mộc tước như chuông treo.


Ngũ sơn cao vút đẹp đẽ.


Nước bốn bề cùng chầu về.


Các núi như đang xê dịch chân.


Các đỉnh núi tròn trịa viên mãn.


Rồng cao ôm lấy hổ.


Thủy khấu lớp lớp.


* Đất có mười điều phát quý:


Thanh long song ủng.


Long hổ cao sừng sững.


Hằng nga thanh tú.


Cờ trống tròn trịa, vuông vắn.


Giá bút đặt trước nghiên mực.


Quan cáo phục chung.


Bạch hổ tròn trặn, sống động.


Chấm phá thanh long.


Bình phong tẩu ma.


Thủy khấu lớp lớp.


* Đất có hai mươi điều tốt:


Long tốt: loan bay phượng múa.


Huyệt tốt: tinh thần (trăng sao) tôn trọng.


Sa tốt: dựa vào nhau như quân đồn trú.


Thủy tốt: sinh động như rắn vừa ra khỏi hang.


Long tốt: không bị vương tinh.


Huyệt tốt: hung tinh bị chắn.


Sa tốt: không có chầu có ảnh.


Thủy tốt: như rắn vụt qua đường.


Long tốt: đón, tiễn trùng trùng.


Huyệt tốt: tàng bát phong.


Sa tốt: ngàn đỉnh chen nhau.


Sa tốt: hình đẹp như cây cung đặt nằm.


Long tốt: như bút khi viết, như giáo khi vung.


Huyệt tốt: bốn bên minh đường nghiêm chỉnh.


Sa tốt: triều dương (châu về dương) sông chảy đẹp.


Long tốt: như nhà sư tọa thiền.


Sa tốt: như người ngồi viết.


Thủy tốt: như cây cung lắp tên.


Long tốt: có nắm có bệ.


Huyệt tốt: có gói có bọc.


Sa tốt: có nấm, có quả.


Thủy tốt: có đóng có khóa.


* Từ đó, người ta cho rằng đất tốt cần có:


Long phải sinh vượng, phải nhấp nhô.


Mạch phải mảnh, huyệt phải kín đáo, lai long (rồng đến) phải trực cục.


Đường (bãi trống trước huyệt) phải sáng sủa, bằng phẳng.


Sa phải sáng sủa, nước phải ngưng.


Núi phải ôm vòng, nước phải chảy quanh, rồng phải ngủ, hổ phải thấp hơn rồng, nước phải tĩnh lặng.


Phía trước phải quan, phía sau phải quỷ, lại phải gối đầu, hai bên nhìn vào nhau.


Nước (sông, dòng chảy) phải gặp nhau.


Thủy khẩu phải đóng mở.


Huyệt phải tàng phong, lại phải tụ khí, bát quốc không được khuyết, la thành không được chảy tuột đi, núi phải không chỗ lõm, nước không được chảy tuột đi, đường cục phải trọn vẹn, nghiêm chỉnh. Núi phải nhô cao.


Kiêng kỵ về chọn đất đời Thanh (Trung Quốc)


Long phạm kiếp sát phản nghịch.


Long có sống lưng sắc như lưỡi kiếm.


Huyệt có hung sa ác thủy.


Huyệt có phong khí thổi ra.


Sa có hiện tượng vỡ lở.


Sa quay lưng lại huyệt.


Thủy như cây cung chĩa thẳng vào huyệt.


Hoàng tuyền đại sát.


Phương hướng phạm sinh khá vượng.


Phương hướng phạm bế sát  thoái thần.


Theo phong thủy, các địa hình trên, nếu làm nhà, để mả đều không tốt.


Ngược lại, đất có các địa hình dưới đây sẽ không phạm vào điều cấm kỵ:


La thành châu mật.


Thủy xung quanh huyệt.


Sa thủy bay la liệt như sao trên trời, bảo hộ huyệt như thành trì.


Vị trí cắm huyệt như đại tướng ngồi trong trướng, cờ quạt sĩ tốt sắp hàng hai bên, tám cổng thành khoa chặt chân khí.


Sa thủy nội triều. Sa thủy bốn bên ốm lấy huyệt địa, các tỉnh đều hướng vào trong, tựa như rất có tình, lại có dáng như cúi chào.


Minh đường rộng rãi. Trong cái địa thế được sơn thủy vây quanh, có một bãi phẳng, nhỏ thì lập được một thôn, lớn xây được một thành phố.


Vượng khí bừng bừng, toàn bộ diện tích sinh cơ hừng hực, cây cối xanh tốt, mùa màng tốt tươi.

Bài viết cùng chuyên mục

Trong thời buổi hiện đại, các gia đình luôn chọn xây dựng và thiết kế nhà ở dựa trên sự tiện dụng về công năng sinh hoạt đồng thời kết hợp với gu thẩm mỹ cá nhân trong việc bố trí sắp xếp không...

Phong Thủy Lạc Việt là một hệ thống phương pháp ứng dụng, hệ quả trực tiếp của thuyết Âm Dương ngũ hành với nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", được phục hồi nhân danh nền...

Tinh bàn Huyền không Lạc Việt Nhâm Thìn 2012 và nhà của Nguyễn Vũ Tuấn Anh