Khoa cử triều Tây Sơn: Một giấc mơ vàng

Ngày đăng: 20/06/2010 00:00:00

Mùa thu tháng 8, Quang Trung năm thứ 2 (1789) vừa lên ngôi chính vị, đánh bại quân nhà Thanh, việc triều chính chưa được củng cố, nhưng nhà vua đã mở khoa thi Hương cho học trò  xứ Nghệ (có người gọi là khoa thi Tuấn sĩ). Sai Nguyễn Khải Xuyên - La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp làm Đề điệu kiêm chức chánh chủ khảo chấm thi. Đồng thời nhà vua xuống chiếu cho lập Sùng Chính viện:











d
Ảnh minh họa


"Chiếu cho La Sơn Phu tử được biết: Ông tuổi, đức đều cao, tất cả sĩ  phu đều trông ngóng... nay trong nước đã yên, trẫm toan hưng khởi chính học. Ông đã lấy học thuật hiện rõ bên tà, bên chính trong phép học trẫm rất vui lòng. Trẫm định đặt Sùng chính thư viện ở Vinh Kinh tại núi Nam Hoa, ban cho ông chức Sùng chính viện viện trưởng chuyên coi việc dạy học. Nhất định theo phép học Chư Tử khiến cho nhân tài có thể thành tựu, phong tục trở lại tốt đẹp.


Từ nay, phàm trong các viên tư nghiệp, đốc học, mỗi năm nếu có ai học hay, hạnh tốt thì kê quê quán, tên họ đề đạt đến thư viện giao cho ông khảo sát đức nghiệp và hạnh nghệ tâu lên triều đình để bổ dụng. Ông nên gắng giảng rõ đạo đức, rèn đúc nhân tâm để cho xứng với ý của Trẫm khen chuộng người tuổi cao, đức lớn". Khâm tại đặc chiếu Quang Trung năm thứ 4, ngày 20 tháng 8 Sau khi xuống chiếu lập Sùng chính viện, vua Quang Trung còn hạ chiếu lập các nhà học cấp xã và cấp phủ, huyện.



Nội dung: "Chiếu cho quan viên và trăm họ trong nước được biết: Dựng nước lấy việc học làm đầu, muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc, trước đây nhiều việc, việc học không sửa sang được, khoa cử bỏ dần, nhân tài ngày càng ít. Phàm hết loạn thành trị, lẽ tuần hoàn là thế, sau loạn càng cần sửa sang hưng khởi, lập giáo hóa, lập khoa cử là quy mô lớn để chuyển loạn thành trị. Trẫm khi mới bình định đã có nhã ý hậu đãi nhà nho, có lưu tâm quý mến kẻ sĩ, muốn được người thực học để dùng cho quốc gia.


Vậy ban chiếu xuống cho dân các xứ cần lập học xã chọn nho sĩ học thức, có đức hạnh đặt làm thày học giảng dạy cho học trò xã mình. Hẹn năm nay mở khoa thi Hương. Những tú tài thi Hương đỗ hạng ưu được đưa lên trường Quốc học, đỗ hạng thứ thì đưa vào trường Phủ học. Những Hương Cống ở triều cũ chưa làm chức nhiệm gì nay tới chầu thì bổ các chức huấn đạo, tri huyện. Nho sinh và sinh đồ đợi kỳ thi vào thi lại, đỗ hạng ưu thì tuyển dụng, hạng kém thì bãi về trường xã học tiếp. Còn những "sinh đồ ba quan" nhất thiết bắt về làm dân, cùng dân chịu sưu hạch". Đây là những chủ trương tích cực, biện pháp rõ ràng, khoa học nhằm dồn công sức xây dựng đất nước nhưng thời gian quá ngắn, vua Quang Trung chỉ mới tổ chức được 1 khoa thi Hương, còn khoa Tiến sĩ thì chưa tổ chức được khoa nào. Thực là một giấc mơ vàng.

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.