Khoa cử triều Lý

Ngày đăng: 14/04/2010 00:00:00

Từ trường học lớn đầu tiên


Sau khi dời đô về Thăng Long, việc dạy Nho học và Hán học tuy chưa được quy định thành thể chế, nhưng từ buổi ban đầu, triều đình đã chủ trương cho các hoàng thân, quốc thích, con cháu các đại thần và các nhà lương thiện được học chữ Hán xen lẫn với kinh điển Phật giáo.



Năm Canh Tuất, niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070), vua Lý Nhân Tông cho xây dựng Văn Miếu ở phía nam Hoàng thành Thăng Long để Hoàng thái tử đến học, tạc tượng Chu Công, Khổng Tử và Tử phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử  Tư, Mạnh Tử), vẽ tượng "Thất thập nhị  hiền" bày ở Văn Miếu, bốn mùa tế lễ.

Đó là Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trường học lớn đầu tiên của nước ta. Đây là một sự kiện văn hóa được ghi vào quốc sử. Dần dần Quốc Tử Giám được chuyển thành trường học của con em dòng dõi vua chúa, quý tộc, con em đại thần, quan lại...













Khuê Văn Các ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội).

Để có người trông nom việc học hành, ngay trong năm 1070, vua Lý Nhân Tông mở khoa thi "Văn học Tuấn tú". Lý Dụng Quang và những người thi đỗ được bổ nhiệm vào làm việc và giảng dạy trong Quốc Tử Giám. Từ đó việc học tập, thi cử ngày càng đi vào nề nếp và phát triển.

Đến ghi chép về các khoa thi

Năm Ất Mão, niên hiệu Thái Ninh 4 (1075), vua Lý Nhân Tông xuống chiếu mở khoa thi Minh kinh bác học và Nho học Tam trường. Đây là  khoa thi Nho học đầu tiên, Lê Văn Thịnh và  10 người đỗ được liệt vào hàng khai khoa của làng khoa bảng nước nhà.

Năm Bính Dần, niên hiệu Quang Hữu thứ 2 (1086), vua Lý Nhân Tông mở khoa thi chọn người bổ sung vào Hàn lâm viện. Mạc Hiển Tích đỗ đầu được bổ chức Hàn lâm học sĩ.

66 năm sau, năm Nhâm Thân, niên hiệu Đại Định năm thứ 13 (1152), tháng 10, vua Lý Anh Tông tổ chức thi điện. Năm Ất Dậu, niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 3 (1165), vua Lý Anh Tông mở khoa thi học sinh. Hai khoa này không thấy ghi tên người đỗ.

Năm Ất Tỵ, niên hiệu Trinh Phù năm thứ 10 (1185), vua Lý Cao Tông thi sĩ nhân trong nước. Lấy đỗ đầu là Bùi Quốc Khải, Đặng Nghiêm và 30 người trúng tuyển. Những người giỏi thi thư được vào hầu vua học ở ngự điện. Những người không đỗ vào học ở Quốc Tử Giám.

Năm Quý Sửu, niên hiệu Thiên Tư Gia Thụy năm thứ 8 (1193) vua Lý Cao Tông khảo hạch các quan văn, võ trong ngoài, ai đỗ thì thăng chức, ai không đỗ thì giáng. Cùng năm lại thi sĩ nhân chọn người vào hầu vua học.

Năm Ất Mão, niên hiệu Thông Tư Gia Thụy năm thứ 10 (1195) vua Lý Cao Tông mở khoa thi Tam giáo (Nho, Đạo, Thích) ai đỗ cho ra làm quan. Đời vua Lý Huệ Tông (1211-1224) còn mở được một khoa thi Thái học sinh lấy đỗ 5 người. Phạm Công Bình người xã An Lạc, tỉnh Sơn Tây đỗ Đệ nhất giáp đệ nhất danh.

Nhìn chung, triều Lý thời gian giữa các khoa thi cách nhau khá xa và không đều, thể chế các khoa thi không được sử sách ghi chép rõ, những khoa thi 1152, 1165, 1193 không ghi rõ tên người đỗ.


Theo nhận xét của sử gia Ngô Thì Sĩ: "Bấy giờ phép thi khoa cử chưa có thể thức nhất định, hoặc đương thời, khi cần thì có chiếu nhà vua gọi những sĩ nhân trong nước vào thi ở trong sân điện (gọi là điện thí) mà sử cũ không chép kỹ. Số người lấy đỗ theo công việc ở Quán, Các mà tuyển dụng, số lượng rất thất thường". Tuy vậy, với trách nhiệm của triều đình, việc học tập, thi cử, bước đầu được chú ý...

Bài viết cùng chuyên mục

Giáo sư Cao Chi đã biên dịch một đề tài mới nhất trong vật lý thiên văn hiện đại, mô tả các liên đới trong vũ trụ, để từ đó giải thích các hiện tượng rối lượng tử. Mà trong đó, hai hạt lượng tử dù...

Cửu đỉnh được coi là bộ bách khoa thư của Việt Nam được các học sỹ dưới thời phong kiến soạn ra một cách hết sức tổng quát.

Đã đến lúc cần cấp tốc loại bỏ thứ "văn hóa đóng khố" ra khỏi nhận thức về trang phục thời đại Hùng Vương, vì đó là một sai lầm nguy hại.

Theo lập luận của GS Nguyễn Văn Hảo, trống đồng ra đời ở Việt Nam và được người Trung Quốc mang về làm thêm một số họa tiết...