Khoa cử thời các chúa Nguyễn

Ngày đăng: 20/06/2010 00:00:00

Năm 1622, Nguyễn Hoàng mất, Nguyễn Phúc Nguyên được lập lên ngôi chúa cho đến Nguyễn Phúc Dương 1777, trong 155 năm, các chúa Nguyễn Đàng Trong chỉ lo củng cố lực lượng quân sự, mở mang bờ cõi về phía Nam và chống sự khuynh loát của các chúa Trịnh Đàng Ngoài.

Việc học hành thi cử còn  đơn giản, nhưng do đất đai ngày càng được mở rộng, quy mô quản lý nhà nước đòi hỏi phải có người tài cao, học rộng.

Năm 1632, Nguyễn Phúc Nguyên bắt đầu thi hành phép duyệt tuyển, cứ 6 năm 1 lần duyệt tuyển lớn, 3 năm một lần duyệt tuyển nhỏ. Mỗi kỳ tuyển lớn tổ chức cho học trò các huyện đến trấn dinh khảo thí một ngày.











d
Tranh vẽ Bộ lễ triều đình nhà Nguyễn.

Phép khảo thí làm một bài thơ, một đạo văn sách, lấy tri phủ, tri huyện làm sơ khảo, ký lục làm phúc khảo. Những người đỗ cho làm nhiêu, học, miễn thuế sai dư 5 năm. Kỳ thi ấy gọi là "thi quận mùa xuân".


Cùng năm ấy còn tổ chức thi viết chữ hoa văn gọi là "Hoa văn tư thể" (chữ Hán). Người đỗ được bổ làm việc ở Xá sai ty, lịch sử ty và Tướng thần Lại ty (Tam ty). Đến thời chúa Nguyễn Phúc Lan định 9 năm 1 kỳ thi. Học trò khoa chính đồ và khoa Hoa văn đều đến công phủ ứng thí. Chính đề thi 3 ngày: Tứ lục, thơ và văn sách mỗi ngày một môn. Người đỗ chia theo Giáp, Ất, Bính.


Giáp bổ giám sinh, tri phủ, tri huyện. Ất là sinh đồ bổ Huấn đạo; Bính bổ Lễ sinh hoặc cho làm nhiêu, học mãn đại. Cách thi như thế gọi là "Thu vi hội thí" (thi hội mùa thu).


Năm 1675, Nguyễn Phúc Tần còn mở khoa thi Thám phỏng. Những người đỗ được bổ vào Xá sai ty.


Năm 1689, Nguyễn Phúc Trăn tổ chức cho học trò chính đồ, Hoa văn, Thám phỏng dự thi chung ở Tuyển trường. Những người đỗ đều được bổ dụng theo nhu cầu công việc và năng lực của từng cá nhân. Năm 1701, chúa Nguyễn Phúc Chu tổ chức khoa thi và tự ra đầu đề, những người đỗ được bổ chức tri phủ, tri huyện, huấn đạo và 3 ty.

Năm 1740, chúa Nguyễn Phúc Khoát  định lại phép thi cử. Kỳ đệ nhất thi Tứ lục, ai đỗ được ban nhiêu, học; Kỳ đệ nhị thi thơ phú; Kỳ đệ tam thi Kinh, nghĩa; Kỳ đệ tứ thi Văn sách, ai đỗ ở kỳ này được ban hương cống và bổ tri phủ, tri huyện, huấn đạo. Kỳ thi có quy mô như một kỳ thi Hương ở Đàng Ngoài.

Năm 1768, chúa Nguyễn Phúc Thuần cho mở khoa thi Hương. Sai chưởng cơ lãnh Hình bộ Tôn Thất Dục làm giám thí. Lấy đỗ Lê Chính Việp, Bạch Doãn Triều và một số lượng hương cống đáng kể. Đây là khoa thi Hương đầu tiên của các chúa Nguyễn Đàng Trong.

Tháng 1/1777, chúa Trịnh Sâm vào Phú Xuân và cho lập Trường thi Hương đồng thời cho mở khoa thi. Lần đầu tiên Phú Xuân có trường thi Hương mở màn cho một nền khoa cử mới ở Đàng Trong.

Từ chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1632) đến chúa Nguyễn Phúc Thuần (1768) mặc dầu chủ  trương chưa tích cực, thể lệ còn đơn giản nhưng các chúa Nguyễn Đàng Trong đã có tầm nhìn về giáo dục, kén chọn nhân tài, mở được 7 khoa thi Chính đồ, Hoa văn, Thám phỏng được gọi là "thi Hội mùa xuân", "thi Hội mùa thu" lấy đỗ 219 người bổ dụng vào các chức tri phủ, tri huyện, huấn đạo và Tam ty đáp ứng việc quản lý đất nước. Đó là kết quả đáng kể ở giai đoạn đầu của các chúa Nguyễn Đàng Trong về giáo dục, thi cử.

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.