Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời mở đầu

Ngày đăng: 07/08/2008 00:00:00


Chúng ta tập trung sức nghiên cứu vấn đề này, vì chúng ta nhận thức rằng tìm hiểu cụ thể xã hội và con người thời Hùng Vương – An Dương Vương, sẽ soi thêm ánh sáng khoa học vào cuộc sống của tổ tiên ta từ 4000 năm trước, từ đó rút ra những kết luận quan trọng về kinh tế và xã hội, về đặc điểm và truyền thống, của một thời kỳ lịch sử có vị trí rất đặc biệt - vị trí mở đầu, trong toàn bộ lịch sử dân tộc ta. Chúng ta cũng tin chắc rằng một công trình nghiên cứu khoa học như vậy, tiến hành dưới ánh sáng đường lối của Đảng, sẽ là một đóng góp vào việc thực hiện nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, bởi vì những kết quả nghiên cứu sẽ giúp nhân dân ta nâng cao lòng tự hào về tổ tiên, bồi dưỡng tinh thần lao động xây dựng đất nước và ý chí sắt đá bảo vệ đất nước, là những truyền thống quý báu đã có từ thời các vua Hùng, mà Bác Hồ kính yêu đã nhắc nhở trong câu nói bất hủ của Người: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.


Trong những năm qua, chúng ta đã khai quật khảo cổ học hàng nghìn mét vuông trên nhiều di tích thời kỳ Hùng Vương - An Dương Vương, mở nhiều cuộc khai quật tại những vùng giặc Mỹ đánh phá ác liệt, và đã đi điều tra điền dã dân tộc học, ngôn ngữ học ở nhiều vùng miền xuôi, miền núi. Chúng ta đã phân tích nghiên cứu một khối lượng lớn di vật, xác định được niên đại bằng các bon phóng xạ (C14) 5 mẫu di vật khảo cổ về thời kỳ Hùng Vương. Chúng ta đã sưu tầm có hệ thống nhiều tư liệu chữ Hán, chữ Việt và chữ nước ngoài khác có nói về Hùng Vương - An Dương Vương; đã ra tạp chí khảo cổ học là tạp chí chuyên môn của ngành, để công bố tư liệu và bài nghiên cứu. Tất cả những việc làm nói trên nhằm phục vụ công tác nghiên cứu của hàng trăm cán bộ thuộc ngành khảo cổ học và các ngành khoa học khác, đang cùng chung sức nghiên cứu hợp tác đề tài này. Có thể vui mừng và nhận xét rằng đội ngũ những người nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương - An Dương Vương ngày càng đông, ai nấy đều hào hứng tự nguyện bỏ công sức và thì giờ vào đề tài lịch sử này, nhiều đồng chí ở các ngành khác cũng đòi hỏi được tham gia nghiên cứu. Việc đoàn kết hợp tác được đẩy mạnh từ những năm trước, nay càng chặt chẽ và cụ thể hơn. Chất lượng các công trình nghiên cứu đã có tiến bộ đáng kể.


Có được tinh thần và tác phong nghiên cứu khoa học đó, là nhờ sự quan tâm lãnh đạo và giáo dục của Trung ương đảng, Chính phủ và Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, nhờ sự giúp đỡ và động viên của các ngành, các địa phương, và của nhân dân ta ở cả hai miền, làm cho mỗi anh chị em nghiên cứu càng thấy thêm ý nghĩa công việc mình đang làm, cố gắng đạt kết quả tốt nhất.


Chỉ tính từ ngay trước hội nghị này, đã có hàng chục cuộc tọa đàm tổ chức theo các nhóm để thảo luận về các đề tài chi tiết, và đã có một cuộc họp lớn có báo cáo và tranh luận để chuẩn bị cho hội nghị tổng kết này. Ở đây, lần này, chúng ta gắn tổng kết lại những kết quả nghiên cứu đã đạt được trong mấy năm qua, trình bày những điều đã được nhất trí, ghi nhận những điều chưa biết hoặc chưa nhất trí để tiếp tục nghiên cứu, và nêu ra phương hướng nghiên cứu trong thời gian tới.


Thay mặt ban tổ chức hội nghị, chúng tôi xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo đã quan tâm đến công việc của anh chị em chúng ta; xin hoan nghênh tất cả các đồng chí trong và ngoài ngành khảo cổ học đã làm việc gian khổ và khẩn trương trong suốt ba năm qua để có được hội nghị này. Xin hoan nghênh các nhà khoa học các nước anh em đến dự hội nghị với chúng ta, hoan nghênh các đồng chí và các bạn ở các ngành, các địa phương có mặt ở đây hôm nay; đặc biệt xin hoan nghênh và cảm ơn các đồng chí ở miền đất tổ Vĩnh Phú là trung tâm nước Văn Lang xưa của các vua Hùng, đã giúp đỡ chúng ta rất nhiều trong công việc nghiên cứu này, hôm nay theo lời mời của chúng ta, đã cử một đoàn đại biểu đông đảo nhất về dự hội nghị.


Chúng tôi xin trân trọng kính mời đồng chí Nguyễn Khánh Toàn, Chủ nhiêm Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, lên cho ý kiến khai mạc cuộc hội nghị khoa học này của chúng ta.


Ban tổ chức hội nghị


 


Mời xem các phần khác:



  1. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 1

  2. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 2

  3. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 3

  4. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 4

  5. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 5

  6. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 6

  7. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 7

  8. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 8

  9. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 9

  10. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 10

  11. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 11

  12. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 12

  13. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 13

  14. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Tiểu dẫn

  15. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời giới thiệu

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.