Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 1

Ngày đăng: 08/08/2008 00:00:00


Một hội nghị như vậy là rất cần.


Trước hết, đó là một phương tiện tốt để đẩy mạnh sinh hoạt khoa học lên, tạo nên một không khí sôi nổi xung quanh những vấn đề học thuật, và qua đó mở rộng kiến thức và nâng cao trình độ lý luận của những người làm công tác khảo cổ học. Đó là một phương thức huy động trí tuệ tập thể, một hình thái hợp tác xã hội chủ nghĩa.


Lẽ tất nhiên, trong một hội nghị, giữa những ý kiến phát biểu, bao giờ cũng có những ý kiến đúng và những ý kiến chưa đúng. Nhưng chính vì thế mà hội nghị là cần, bởi vì hội nghị là nơi mà chúng ta có thể học hỏi nhau (đây là tôi nói về những hội nghị với nội dung khoa học), một diễn đàn để bàn bạc, thảo luận dân chủ, một cách công khai, đàng hoàng, trên tinh thần tôn trọng nhau, nhưng giúp đỡ nhau, với ý nghĩa thực sự cầu thị, vì chân lý, vì khoa học.


Đối với khoa học xã hội nói chung - mà không chỉ khoa học xã hội - khảo cổ học nói riêng, một ngành còn rất mới ở ta, những cuộc sinh hoạt như vậy là sự tiếp xúc rất bổ ích.


Hai là, trong chế độ ta, phàm làm một công việc gì mà mục tiêu là phục vụ cách mạng thì phải thường xuyên, qua từng đợt, từng giai đoạn, từng quãng thời gian, rút kinh nghiệm, làm cái việc mà chúng ta thường gọi là tổng kết. Đó là một lề lối làm việc có tính quy luật trong bất cứ lĩnh vực hoạt động xã hội nào: chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa giáo dục, khoa học, thực tiễn hay là lý luận.


Ở ta, thực tế xã hội, cuộc đấu tranh cách mạng vô cùng anh dũng và sáng tạo tuyệt vời của nhân dân vì những mục tiêu cao cả - độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội – trong những năm qua và hiện nay tiến như vũ bão, là một sức cổ vũ vĩ đại, một dòng sữa đầu chất dinh dưỡng nuôi sống các ngành khoa học xã hội. Nếu trong thời gian qua, ngành khảo cổ học ở nước ta có ích nhiều tiến bộ, thì tựu trung cũng là nhờ bước tiến nhảy vọt kỳ diệu của cả dân tộc trong bối cảnh lịch sử ngày nay đẩy tới.


Đúng thế. Là vì ngày nay nhân dân ta đã làm chủ đất nước, đang tự mình xây dựng và điều khiển vận mệnh của mình, và đang đấu tranh với khí thế của kẻ chiến thắng để bảo vệ và thực hiện hoàn toàn quyền làm chủ.


Như là ngưởi chủ nhân chính, họ có trách nhiệm làm sống lại, bồi đắp, làm giàu thêm cái vốn quý của ông cha để lại, cho nên họ phải biết cặn kẻ, kiểm kê rành rọt, tính toán chi li cái cơ nghiệp ấy. Đã thuộc về quá khứ, cái thời gian khi mà người dân Việt Nam có thể tự mãn với cái khái niệm rất chung rằng dân tộc ta có một lịch sử lâu đời và anh dũng. Ngày nay người công nhân, người nông dân tập thể, người chiến sĩ quân đội nhân dân là những người có trách nhiệm quản lý nhà nước. Họ phải nắm sâu và toàn diện những quy luật phát triển của lịch sử và của xã hội. Vì vậy, những nhà khảo cổ học, những nhà nghiêng cứu lịch sử, và nói chung những ngành có nhiệm vụ tìm hiểu về học thuật và khai thác di sản văn hóa của dân tộc, phải đặt ra cho mình cái nghĩa vụ cao quý là cung cấp cho nhân dân thật đầy đủ những tài liệu, những kiến thức chính xác và tinh vi về di sản ấy, phải cố gắng thỏa mãn ở mức ngày càng cao những đòi hỏi hiểu biết của quần chúng. Quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, họ càng giác ngộ, ý thức của họ càng được nâng cao thì họ càng đòi hỏi hiểu biết nhiều về vũ trụ.


Cũng đã xa rồi cái thời buổi khi mà người ta quan niệm khảo cổ học như là khoa học về những xác ướp - bản thân nó cũng chỉ là một cái xác ướp, không liên quan gì đến thời cuộc, đến quốc kế dân sinh, chỉ dùng để trang sức cho những bộ óc hiếu kỳ. Đó là khảo cổ theo quan điểm tư sản và thực dân, là một sự đoạn tuyệt tàn nhẫn giữa quá khứ và hiện tại, hòng đảo lộn quy luật tiến hóa của thế giới, một thứ khoa học siêu hình không thể đi vào bản chất của sự vật, vào chân lý lịch sử.


Tư tưởng Mác – Lê-nin, thành tựu cao nhất của lý trí của con người, đã bắc một nhịp cầu thần kỳ, thực hiện một sự dịch lại giữa dĩ vãng xa xăm và cái hiện thực trước mắt, qua sự nhận thức về tính thống nhất và liên tục của vũ trụ.


Thường xuyên tổng kết công tác đã làm là một yêu cầu rất cơ bản để công tác tiến triển không ngừng. Tổng kết, tức là đối chiếu với thực tế để biết chúng ta đã làm được gì, đã tiến bộ đến đâu, giá trị của sự tiến bộ đó như thế nào, đã góp phần nào vào việc nâng cao nhận thức của nhân dân đối với di sản văn hóa của dân tộc, còn phải đi sâu vào những khía cạnh nào, phương hướng của những cố gắng của chúng ta trong thời gian tới là gì, để phục vụ nhân dân, phục vụ khoa học cho sát hơn với những yêu cầu của cách mạng.


Vì vậy chúng ta rất hoan nghênh ngành khảo cổ học tổ chức những buổi sinh hoạt, những hội nghị thường kỳ như thế này. Khảo cổ học có những đặc điểm riêng của nó. Nó có những mặt dễ, nhưng cũng có những mặt khó cho công việc nghiên cứu. dễ là nó có thể dựa vào những di vật phần nhiều được lòng đất giữ lại hầu như nguyên vẹn qua hàng mấy nghìn năm. Những chứng cứ ấy về nhiều mặt đáng tin cậy hơn những cứ liệu trên mặt đất luôn luôn chịu sự tác động của khí hậu, thời tiết và những biến động dâu bể của đời sống xã hội.


Khó là ở chỗ những người xưa mà chúng ta cho là đã tạo nên những của cải ấy, họ đã sống như thế nào, và họ đã tổ chức cuộc sống ấy như thế nào mới làm ra được những của cải như vậy? Hơn nữa, cái gì là “nguyên chất”, cái gì là “pha trộn”? Những cái đó đều có quan hệ đến các mặt nhân chủng, địa lý, xã hội, lịch sử, triết học.


Nghiên cứu một nền văn hóa cổ xưa là để phát hiện ra cái triết lý của nền văn hóa ấy, mà muốn phát hiện nó thì phải biết cái cơ sở thực tại đã đẻ ra nó. Khó khăn của khảo cổ học bắt đầu thấy rõ hơn một số vấn đề, và là những vấn đề khá cơ bản, trong khảo cổ học, là vì, ngoài sự quan tâm của Trung ương Đảng, những thắng lợi to lớn của cách mạng ta và nhiệt tình của cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương, chúng ta đã thực hiện những biện pháp có hiệu nghiệm. Đó là: trong ngành đã biết vận dụng phương châm tập trung, dứt điểm, lấy việc nghiên cứu thời kỳ bắt đầu dựng nước – Hùng Vương - An Dương Vương làm trọng điểm. Hai, là đã tổ chức những buổi sinh hoạt, những hội nghị tổng kết sau một thời gian đi công tác điền dã và khai thác tài liệu. Ba, là đã có một sự phối hợp ở một mức độ nhất định giữa các ngành, các cơ quan, cả đến các cá nhân. Cũng cần nhắc đến một yếu tố quan trọng nữa là sự hợp tác quốc tế, trước hết là giữa ta và các nước xã hội chủ nghĩa anh em.


Sau 3 năm công tác, và cố gắng chung theo tinh thần vừa nhắc ở trên, các bộ khảo cổ học của chúng ta đã làm cho chúng ta thấy rõ hơn một số điểm. Một, là nó củng cố thêm nhận định của chúng ta rằng thời kỳ Hùng Vương – An Dương Vương là một thực tế lịch sử, là thời kỳ ông cha ta bắt đầu dựng nước, và chính sử Việt Nam bắt đầu từ đó. Hai, là vấn đề niên đại. Bây giờ chúng ta có thể nói với thiên hạ rằng dân tộc ta có 4000 năm lịch sử, mà không sợ có người cho rằng sự khẳng định đó là thiếu cơ sở khoa học, là một sự tự đề cao mình quá đáng. Ba, là tính chất bản địa của nền văn hóa Văn Lang - Âu Lạc. Điểm này rất quan trọng. Nó giúp chúng ta hiểu thêm cái nguồn gốc sức sống kỳ điệu, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc mạnh mẽ rất sớm của người Việt Nam. Và bốn, là tính liên tục của nền văn hóa cổ xưa của Việt Nam từ thấp lên cao - đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, những giai đoạn đó đều diễn ra trước khi Việt Nam bị nước ngoài xâm lược và đô hộ.


Đó là những quan điểm rất quan trọng. Dĩ nhiên, không phải ngành khảo cổ học của ta mới phát minh ra chúng trong ba năm, chúng cũng không phải là kết quả chỉ của ba năm cố gắng, dù là với sự phối hợp của nhiều ngành. Nói một cách công bằng và nghiêm túc, thì đó là kết quả của sự cố gắng của lớp cán bộ nghiên cứu sử học mới của chúng ta, lớn lên từ sau Cách mạng tháng Tám thành công, được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác – Lên-nin và đường lối cách mạng của Đảng. Những cuộc tranh luận trong giới sử học ta trong vòng 15 – 20 năm qua về các vấn đề như: dân tộc Việt Nam hình thành từ bao giờ? Ở Việt Nam thời cổ có hay không có chế độ chiếm hữu nô lệ? Cho đến những vấn đề phương pháp luận chung – phân kỳ lịch sử, phương thức sản xuất Châu Á, v.v… tuy chưa đi đến kết luận gì, và còn mang khá nhiều quan điểm sai lầm. Điều đó cũng không có gì là lạ, nhưng nó cũng đã gợi ra một số vấn đề để cho các giới sử học suy nghĩ. Nhờ có sự gợi ý đó, cộng với những di vật, tài liệu mà ngành sử học, khảo cổ học, dân tộc học, văn học dân gian và các lĩnh vực văn hóa khác tìm ra được trong hơn 10 năm nay, chúng ta dần dần mới thấy sáng ra được một vài nét rất cơ bản về thời kỳ lịch sử mà chúng ta đang nghiên cứu.


Những điểm mà chúng ta đã ghi được là quan trọng, nhưng mới là bước đầu. Chúng ta còn phải tiếp tục đi sâu hơn, tìm tòi, học hỏi nhiều để cho sự hiểu biết của chúng ta về đời sống của ông cha ta ngày càng sâu sắc, chính xác và toàn diện hơn, để cho những luận điểm xuất phát này của chúng ta – dù sao cũng còn là tạm thời, ngày càng có cơ sở khoa học hơn để đi tới chỗ dứt khoát hơn, có tác dụng như là lời nói cuối cùng, có giá trị như là những nguyên lý.


Vì vậy, điều cần thiết hơn hết là, trên cơ sở phương hướng chung và mục tiêu lâu dài, là xây dựng một nền khảo cổ học Việt Nam hoàn chỉnh và tiên tiến, chúng ta phải có một kế hoạch ngắn hạn, trong 3 năm chẳng hạn.


Những vấn đề mà hội nghị nêu ra - đời sống vật chất và tinh thần của ông cha ta – chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, xã hội, kỹ thuật,… đều là những vấn đề rất quan trọng, rất cần. Nhưng đó là những vấn đề lâu dài, có những vấn đề mà chung quanh nó trong hàng mấy chục năm, các giới khoa học cũng chưa hết tranh cãi. Phải có kế hoạch 3 năm để đặt trọng tâm: trong các vấn đề ấy, thì ta phải tập trung sức vào những vấn đề nào để giải quyết, hoặc trong một vấn đề, ta nên chú trọng đến khâu nào, mặt nào trước hết?


Tất nhiên, việc lựa chọn trọng điểm không thể tùy tiện, ngẫu nhiên được, mà phải suy nghĩ, cân nhắc, có lí do khoa học. Nó phải có quan hệ với cuộc cách mạng văn hóa của chúng ta như trong vấn đề kinh tế thời Hùng Vương – An Dương Vương, có nên lấy nông nghiệp làm trọng điểm không, và về nông nghiệp, vấn đề lúa nước có phải là mặt cần để ý trước hết không?


Một điểm nữa mà tôi nêu ra và đề nghị với các đồng chí. Đó là sự cần thiết phổ cập những kiến thức về khảo cổ học trong đông đảo quần chúng nhân dân.


Đó là một vài gợi ý của tôi đối với hội nghị này. Tôi tin chắc rằng với tinh thần hăng say khoa học của các đồng chí – nó là sự biểu hiện tinh thần tiến công vào khoa học mà Đảng đã đề ra cho chúng ta, với tinh thần hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng với tinh thần đoàn kết chặt chẽ và hợp tác xã hội chủ nghĩa, và quyết tâm thực hiện di chúc thiêng liêng của Hồ Chủ tịch trên mặt trận cách mạng tư tưởng – văn hóa, với quyết tâm thực hiện triệt để nghị quyết Hội nghị lần thứ 19 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, ngành khảo cổ học của chúng ta trong thời gian tới sẽ giành được những thành tựu xứng đáng với sự quan tâm của Đảng và của nhân dân.


 


Mời xem các phần khác:



  1. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 2

  2. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 3

  3. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 4

  4. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 5

  5. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 6

  6. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 7

  7. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 8

  8. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 9

  9. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 10

  10. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 11

  11. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 12

  12. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - 13

  13. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời mở đầu

  14. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Tiểu dẫn

  15. Hùng Vương dựng nước - Tập IV - Lời giới thiệu


 


Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.