Hấy? với Hầy!

Ngày đăng: 06/08/2010 00:00:00

Chỉ một tiếng “hầy!”thường dùng ở Băc Trung Bộ, dùng để khẳng định ấy đã cho thấy là cái “bia miệng” hàng vạn năm nó vẫn còn trơ trơ.Nó là từ cổ nhất vì nó là từ cơ bản ,cũng như con số đếm một hai ba bốn năm,và dùng với tần xuất lớn nhất trong khẩu ngữ của các cộng đồng người.Người Nhật nói “hay!” tức “phải!”.Người Quảng Đông nói “hầy!” tức “phải!”. “ừm hầy!”là “ừ phải!” (Còn từ “hấy” trong tiếng Bắc Trung Bộ nghĩa là “hỏi gì đấy?”,nó một âm tiết tức “nén thông tin” hơn là ba âm tiết).Chỉ một từ “hầy” đã đủ nói rằng ba cộng đồng người trên có cùng gốc tổ thuở xa xưa.Theo di truyền học (kết quả của Viện nghiên cứu gen ở Pari) thì người Kinh,người Khơ Me,người Hoa ở miền nam Trung Quốc,người Bố Y ở Đài Loan,người Tày-Thái, người Hoa ở Singapo,người Hoa ở Thái Lan,người Mân Nam (Phúc Kiến,Triều Châu,Đài Loan),người Khách Gia( chủ yếu ở Đài Loan) là cùng một tộc người.
Vậy thì chính họ là dòng giống Bách Việt của nền văn minh Văn Lang cổ đại.Cũng như từ “nô-ê” trong tiếng Nhật nghĩa là con thuyền,còn trong Kinh Thánh thì kể chuyện thời xưa gặp trận Đại Hồng Thủy loài người lên con thuyền NÔ-Ê của Thượng Đế để thoát được lên núi cao,còn trong tiếng bắc Trung Bộ thì con thuyền gọi là cái “nốc”,nhưng bị khinh là “tiếng nhà quê” nên không đưa vào từ điển tiếng Việt.Từ dân dã là có trước rồi từ hàn lâm mới có sau,chứ chẳng lẽ người dân quê không biết chữ ở Nghệ An thời cổ đại lại đợi đến khi có Kinh Thánh rồi mới mượn từ hàn lâm “nô-ê” để gọi con thuyền nan đơn sơ rách mướp của mình là cái “nốc”?.

Cái âm tiết “hầy” ấy làm gì có trong tiếng Quan Thoại,nhưng nếu đọc sách Trung Quốc sẽ được giải thich đó là “âm tiết Hán cổ”,có từ thời Đường hay thời Tống.Nhưng thời Đường thì người Hoa nói tiếng “Thoòng wả” mà đến bây giờ người ta vẫn nói tiếng ấy trên khắp thế giới và gọi là “Thoòng wả” mà người Quan Thoại nghe chẳng hiểu được,hàng mấy ngàn năm mà cái “bia miệng” ấyvẫn còn trơ trơ.Nghiên cứu ngôn ngữ thì cũng như nghiên cứu sử,là phải đứng trên nền khoa học chứ không phải trên nền quốc gia.Người Na Uy,Thụy Điển,Đan Mạch nói vẫn hiểu được nhau,gọi là tiếng Na Uy,tiếng Thụy Điển,tiếng Đan Mạch chẳng qua là vì đó là những quốc gia khác nhau mà thôi.Ngôn từ đương nhiên là có từ mới mượn vào,có từ cũ mất đi không còn dùng nữa nhưng “bia miệng” là cái cánh phát âm của miệng và cú pháp trong khẩu ngữ thì nó còn mãi trơ trơ ( cũng giống như tiếng Việt hiện đại,ngữ pháp thì cứ gò nó vào cho đủ chủ ngữ ,vị ngữ ,tân ngữ trong một câu, như ngữ pháp tiếng Pháp,chứ khẩu ngữ thì người ta vẫn nói hàng ngày như cú pháp trong các câu Kiều thôi,làm gì có phân chia chủ ngữ ,vị ngữ ,tân ngữ… “Rằng năm Gia Tịnh triều Minh”…) và chẳng bao giờ nhập mới cả.

Ví dụ câu nghe được trên chuyến xe lửa kia thì từ “ga”rõ ràng là nhập từ Pháp,nó thành thuần Việt rồi .Hay như từ “xích” cũng vậy,cũng là từ Pháp,nhưng nó đã thành thuần Việt đến mức mang máu Việt luôn,cũng đẻ được trong nôi Âm Dương như những từ gốc Việt khác,đó là cái nôi khái niệm của XÍCH đẻ ra XIỀNG…XOĂN-XOẮN…XÊN, ró ràng là cũng thành 5 khái niệm,nhưng cùng một gốc: “xoăn-xoắn” là cái hình hài gồm những vòng tròn móc vào nhau thành chuỗi,vì là hình hài đang trong nôi nên chưa có công năng gì vì nó đã ra khỏi nôi đâu,”xích” là cái thông dụng, công năng để kìm giữ có khoảng cách như cái xích chó, “xiềng”là cái như xích nhưng lớn hơn có công năng để trói, “xên” là cái như xích nhưng công năng của nó là nối liền hai bánh răng truyền động như của xe đạp hay xe máy(còn cái vòng đai nối truyền động cho hai bánh đà thì vẫn gọi là cu-roa như nguyên bản Pháp).Ấy vậy mà các nhà hàn lâm ngôn ngữ học Việt Nam không hề đem những từ như “xên” hay “hầy” vào từ điển tiếng Việt đâu vì cho nó là từ “nhà quê”,họ thích dùng từ “Hán Việt” cho nó “sang”.Đến như từ “MỖI” rõ ràng là do từ “MUÔI” là 1 của tiếng Khơ Me (Quan Thoại mượn thôi,đọc là “mẩy”),trong tiếng Việt MỖI mới đẻ ra MÔ…MẬP-MỜ…MỘT là cùng gốc nôi Âm Dương,chứ trong Quan Thoại thì “mẩy” không đẻ được kiểu tách đôi Âm Dương(do vua Phục Hy không dạy cho họ vì thời đó người Hán còn ở rất xa phía bắc Trung Á),tiếng Quan Thoại có “mẩy”-mỗi là một thực thể, “líng”-linh là 0,”yi”-nhất là 1,mấy từ ấy đâu có thấy gì thể hiện cùng gốc Âm Dương?Nhưng MỖI vẫn được các nhà hàn lâm ngôn ngữ học Việt Nam coi là “từ Hán-Việt” cũng như họ nói “70% các từ dùng trong tiếng Việt hiện đại là từ Hán-Việt”.Nhưng người Hán có cái hay là không kỳ thị ngôn từ các dân tộc khác,họ dùng chữ Hán để chú âm lại hết,được nhiều từ đồng nghĩa thì chia ra dùng từ này ở ngữ cảnh này,từ đồng nghĩa kia thì dùng cho ngữ cảnh khác ,càng phong phú câu văn.(Nhưng xưa kia các vị hàn lâm ở thủ đô thì cực ghét giọng địa phương,nên thời Mao Trạch Đông còn là sinh viên trường Bắc Đại rất tích cực phát biểu,được thầy chỉ đứng lên rồi, nhưng nghe giọng Hồ Nam thì thầy là vị giáo thụ lờ đi không thèm trả lời—Đọc trong “Mao Trạch Đông truyện” NXB Thượng Hải năm 2006) .

Bởi vậy bây giờ từ điển Hán mới vô cùng phong phú như vậy (ví dụ “thương” là màu xanh da trời,”thanh”là màu xanh của sự trẻ ,”lam” là màu xanh nước biển-nó do từ “rum” của tiếng Việt,sông Lam gọi là sông Rum,”lục” là màu xanh lá cây…),từ nào nó không phải gốc Hán thì nó là “tiếng Hán cổ”.Ví dụ từ ‘nơ-ron” của cái tế bào óc,nó chỉ mới có từ khi Tây y truyền bá sang phương Đông,người Hán chú bằng hai chữ “nang bào” vốn là ngôn từ Việt, họ đọc là “náng pao”nghe cũng tờ tợ như nơ-ron mà về nghĩa chữ thì chuẩn ,vì “nang”trong tiếng Việt là cái bọc sống sẽ nở ra (trong cái nôi Âm Dương:NỎ…NỞ -NANG…NẬY tức của cái NÒI đang từ không tức “nỏ” phát triển dần lên trong nôi là đang” nở- nang” cho đến lớn hẳn tức “nậy”-nậy nghĩa là lớn, tiếng “nhà quê”, mà hàng chục triệu người Việt ở bắc Trung Bộ vẫn nói hàng ngày).Từ “nang”ấy người Việt vốn dùng để chỉ cái buồng hoa cau khi chưa nở (tức đang còn trong nôi),nghĩa là cái từ đó phải có từ trước thời vua Hùng khi mà tục ăn trầu đã phổ biến.

Từ “nang”ấy lại là do từ “pơ-nang” trong tiếng Mã Lai nghĩa là cây cau mà Quan Thoại phiên âm là “pin láng”-tân lang( ở Malaixia có thành phố Pênang).Còn từ bào thì đã rõ rồi,chỉ có người Việt và người Hoa mới có từ “đồng bào” nghĩa là con cùng một bọc.Nhưng khi giải thích từ “nang bào” là chữ “ Hán cổ”thì có nghĩa là người Hán đã nghiên cứu tế bào não từ thời cổ đại chứ chưa đợi đến khi có y học của khoa học phân tích của phương Tây mới biết.

Bài viết cùng chuyên mục

Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh Lê Viết Nga cho biết: Bắc Ninh vừa phát hiện tấm bia đá có niên đại từ năm 314 đến năm 450 tại thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh). Đây...

Chiều 7/9, Bảo tàng Hà Tĩnh, cho biết trong quá trình sưu tầm, khảo cứu các hiện vật lịch sử văn hóa trên địa bàn xã Xuân Đan, H.Nghi Xuân (Hà Tĩnh), nhóm nghiên cứu của bảo tàng này vừa phát hiện,...

Hãy xem từ cái Nôi khái niệm “Sông”:<br /><br />Krông = Kông = Sông = Tông 宗 = Dòng = Dõng 涌 = Giang 江 = Kang = Kênh = Kinh 泾= Linh 泠 = Lối = Lộ 潞 = Lạc 洛= Lạch = =Rạch = Mạch 脈 = Ngách = Ngòi =...

Tìm nguồn gốc dân tộc là khát vọng truyền đời của người dân Việt.

Lịch sử Bách Việt chứng tỏ không kém phần phong phú khi được hé lộ qua kỹ thuật đúc gươm, trống đồng...

<br /> Từ Hán Việt (HV) là kết quả rất tự nhiên sau bao nhiêu thế kỷ bị người Hán đô hộ cũng như sống bên cạnh nhau: đây là những từ gốc Hán thâm nhập vào và làm vốn từ Việt thêm phong phú.

Truyền thống lâu đời của chữ Hán đã cho ta nhiều thông tin thú vị về văn hoá tư tưởng của người xưa.

Cùng tồn tại với bãi đá cổ ở Sa Pa (Lào Cai), những hình khắc bí ẩn từ nghìn đời nay ở bãi đá cổ Xín Mần (Hà Giang) đã đi vào tín ngưỡng với tục thờ đá của người dân địa phương. Những hình khắc một...

Luật Pháp ( 09/03/2012)

Luật Pháp : Từ ghép này xuất xứ từ công nghệ Bánh Chưng, lúc đầu chỉ là để chỉ các công đoạn cụ thể, sau nâng ý trừu tượng hóa thành từ “luật pháp”. Khi gói xong bánh chưng thì dùng Lạt để Buộc....