Giải thích chữ HỢP 合

Ngày đăng: 27/06/2011 00:00:00

Giải thích chữ HỢP 合


(Xin nhắc lại QT là viết tắt “Qui tắc Tạo ngôn từ Việt” )


Cái Bánh Chưng của người Việt Nam quả thật là một sự Hòa Hợp. Bài trước tôi đã theo QT giải thích chữ Hòa 和là “Hột Lúa trồng ở ruộng của Ta”=(lướt)=Hòa和. Người Việt đã tạo ra cái tượng đài vĩ đại độc đáo bằng thực phẩm là cặp Bánh Dầy-Bánh Chưng, chỉ dùng khi tế Tổ Tiên và Trời Đất. Đó là cái Đạo Việt dạy con người ta sống hòa hợp với thiên nhiên (như sách của Thiên Sứ đã giải thích), biết bảo vệ môi trường sống để có mãi mãi một nền nông nghiệp bền vững như hột Nếp Cái Hoa Vàng ( “nền Nếp của Mẹ là tinh Hoa huy Hoàng”) để làm nên bánh Chưng, trồng ở cùng một mảnh ruộng mà 5000 năm nay canh tác không ngừng nghỉ một mùa nào, vẫn tạo được hột Nếp nguyên gen hình dáng và thơm ngon như xưa. Cái bánh Dầy hình tròn tượng trưng Trời, lồi hình bán cầu như cái đầu Chầy, mà theo QT thì Chầy=Dầy; cái bánh Chưng hình vuông tượng trưng Đất, tổng hợp trong nó đủ Ngũ Hành về tính của chất liệu cũng như màu sắc tương hợp (như sách của Thiên Sứ giải thích) nên nó được mọi thế hệ hàng nghìn năm nay thèm và ưa thích tức là Ưng, mà theo QT thì Chưng= Ưng=Cưng=Cối. Cái Đạo Việt cổ đại ấy là đạo phồn thực của dân Chầy Cối, như hình cặp trai gái dã gạo ( hoặc dã vỏ cây Dó để làm Giấy) thể hiện trên trống đồng, mà theo QT thì Chầy Cối=Chọc Cối=Độc Cối (Độc lại đúng hình tượng con số 1 của chữ Latin, dáng đứng như cái Chầy), Độc Cối=Đâm Cối (người Việt còn gọi dã gạo là “đâm gạo”, dân vùng Thanh Nghệ gọi là “đâm gấu”, người Tày gọi là “tăm khẩu”), Đâm Cối=Đực Cái. Từ Cối ấy có trước, rồi mới có kinh đô nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn là đất Cối Kê ở bờ nam sông Dương Tử, mà về sau Khổng Tử từng viết: “Từ Cối Kê đến Giao Chỉ dài tám trăm dặm là địa bàn của dân Bách Việt”. Chữ Cối 會ấy còn đọc là Hội會, mà theo QT thì Cối=Hội=Họp=Hợp=Hạp đúng như là cái Cối, là vật chứa đựng bao nhiêu là hạt gạo tụ hội trong lòng nó. (Cái Cối Đồng đã được phát âm theo kiểu Hán hóa cấu trúc là “Đồng Cổ 銅鼓”, hình dáng Cối Đồng là hình lộn ngược của cái Cối Đá dùng dã gạo, vì Cối Đồng là vật dùng cho thế giới Âm, là vật chỉ được Gõ=Vỗ khi thờ thần linh hay khi gọi hương linh Tổ Tiên về cùng con dân khi xung trận. Tiếng nó phát ra gọi là Trống vì nó là Không, nhưng có uy lực tâm linh vô cùng mạnh mẽ vì nó là năng lượng, theo QT thì Cối Vỗ=Cổ Võ鼓舞 ). Chữ Hợp 合là chữ nho của người Việt viết theo cách biểu ý bằng ghép chung ba chữ lại, đó là Thiên Địa Nhân cùng đồng thuận thì gọi là Hợp合. Trong chữ Hợp 合này thì Trời được biểu hiện bằng quẻ Càn mà ba nét kẻ ngang được hội tụ lại thành một nét kẻ ngang “ 一”, vì Trời là ở Ngang trên đầu mình, phải Ngẩng lên mới thấy được, Ngang=Càng=Giàng, Trời được tượng trưng là cái bánh Dầy, theo QT thì Trời=Giời=Chời=Chầy=Dầy. Chữ Đất là cái tượng trưng hình vuông “ 口” như bánh Chưng. Chữ Nhân “人” là Người, theo QT thì Người=Ngôi=Nòi=Dõi=Dân=Nhân. Chữ Hợp 合 là Thiên “ 一” + Địa “口” + Nhân “人” ấy chính là “Dân人 Dầy 一Chưng口” tức “Dân Chầy Cối”, nó thật đúng với lẽ trời là Hòa Hợp dân tộc. Cũng giống như chữ Đồng 同là cái vòng Cung=Quay Chung nối vòng tay lớn quanh đống lửa trong điệu Xòe=Xa của dân Dầy一 Chưng口. Cái lý của người Việt nó đúng như vậy nên mọi ngụy biện vô lý do tự vẽ ra bởi lòng tham đều thua dân Việt. Thành ngữ Việt có câu “Điêu ngoa đến mấy cũng không cãi nổi dân Chầy Cối”.
Cái Chầy cái Cối đang hoạt động thật thì nó phát ra âm thanh, là cái Tiếng=Thanh=Thuyết=Thét=Thỏ-Thẻ=Thủ-Thỉ=Thầm-Thì.v.v. Nhưng tiếng Chầy đâm Cối thì nó đều đều, chậm rãi, bền bỉ, sâu lắng nên âm thanh ấy gọi là “Thậm-Thình”, nên ở Phú Thọ có làng tên là làng Thậm Thình, chuyên được phân công dã gạo nếp để gói bánh chưng ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Cứ theo QT mà dẫn thì cái lý của người Việt cứ như là đã được mã hóa sẵn trong ngôn từ Việt: Đất mẹ là cái bánh Chưng, Chưng=Ưng=Cưng=Cái=Cối=Hội=Họp=Hợp=Hạp=Nạp=Nộp=Gộp=Góp=Gom=Gái=Nái=Mái=Mẹ. Mẹ sinh ra trăm con, tài sức của trăm con lại gom về nơi Mẹ. Trăm con dân Việt Nam dù ở phương nào gần hay xa cũng đều Hợp nhau lại nơi đất Mẹ để bảo vệ Tổ Quốc. Cái sức mạnh tụ hội trong bánh Chưng ấy là sức mạnh của cộng đồng đa sắc mà thống nhất, như chuyện cổ tích Thánh Gióng kể rằng: Cả làng góp gạo thổi cơm, cả làng gánh cơm gánh cà đến cho cậu bé Gióng ba tuổi ăn. Cậu Gióng ăn cơm làng, lớn nhanh như thổi, thành một thanh niên cường tráng, nhảy lên ngựa sắt, cầm gậy sắt đi đánh giặc xâm lăng. ( Tình tiết này đã bị sách xuất bản ngày nay lược bỏ đi, mà chỉ viết rằng: “Cậu bé lên ba nghe tiếng rao truyền lời Vua, liền biết nói, ngồi dậy, vươn vai một cái biến thành một thanh niên cường tráng…”).

Bài viết cùng chuyên mục

Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh Lê Viết Nga cho biết: Bắc Ninh vừa phát hiện tấm bia đá có niên đại từ năm 314 đến năm 450 tại thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh). Đây...

Chiều 7/9, Bảo tàng Hà Tĩnh, cho biết trong quá trình sưu tầm, khảo cứu các hiện vật lịch sử văn hóa trên địa bàn xã Xuân Đan, H.Nghi Xuân (Hà Tĩnh), nhóm nghiên cứu của bảo tàng này vừa phát hiện,...

Hãy xem từ cái Nôi khái niệm “Sông”:<br /><br />Krông = Kông = Sông = Tông 宗 = Dòng = Dõng 涌 = Giang 江 = Kang = Kênh = Kinh 泾= Linh 泠 = Lối = Lộ 潞 = Lạc 洛= Lạch = =Rạch = Mạch 脈 = Ngách = Ngòi =...

Tìm nguồn gốc dân tộc là khát vọng truyền đời của người dân Việt.

Lịch sử Bách Việt chứng tỏ không kém phần phong phú khi được hé lộ qua kỹ thuật đúc gươm, trống đồng...

<br /> Từ Hán Việt (HV) là kết quả rất tự nhiên sau bao nhiêu thế kỷ bị người Hán đô hộ cũng như sống bên cạnh nhau: đây là những từ gốc Hán thâm nhập vào và làm vốn từ Việt thêm phong phú.

Truyền thống lâu đời của chữ Hán đã cho ta nhiều thông tin thú vị về văn hoá tư tưởng của người xưa.

Cùng tồn tại với bãi đá cổ ở Sa Pa (Lào Cai), những hình khắc bí ẩn từ nghìn đời nay ở bãi đá cổ Xín Mần (Hà Giang) đã đi vào tín ngưỡng với tục thờ đá của người dân địa phương. Những hình khắc một...

Luật Pháp ( 09/03/2012)

Luật Pháp : Từ ghép này xuất xứ từ công nghệ Bánh Chưng, lúc đầu chỉ là để chỉ các công đoạn cụ thể, sau nâng ý trừu tượng hóa thành từ “luật pháp”. Khi gói xong bánh chưng thì dùng Lạt để Buộc....