Đổng Công tuyển trạch nhật yếu dụng - Tháng Ba (3)

Ngày đăng: 18/01/2010 00:00:00

NGÀY KIẾN là ngày Thìn:

Có Địa võng, Câu giảo, không lợi về tu tạo, an táng, hôn nhân, khai trương, phạm cái đó chủ bị bỏng nước sôi, bỏng lửa, chim ác (chim thiu) làm hại, tự do sinh nam, sinh nữ nhưng đều rất xấu xí, có ác tật, vô ích.

Ngày Giáp Thìn, Mậu Thìn, là Sát nhập trung cung, càng xấu, chủ về trong ba năm nhà bị phá, người mất.

NGÀY TRỪ là ngày Tị:

Đinh Tị nên tu tạo, nhập trạch, di cư, động thổ, làm đồ dùng, hôn nhân, thì rất tốt.

Kỷ Tị tạo tác, nhập trạch, cũng tốt. Nếu mai táng thì phạm trùng tang bất lợi dụng.

Ất Tị có 10 thứ ác xấu.

Tân Tị tuy có hỏa tinh, ngược lại có Xương quỷ (quỷ cuồng vọng), bại vong, lại là ngày thập ác phạt, không nên dùng.

Quý Tị, Thiên thượng Không vong, lại phạm thổ quỷ cũng không nên dùng.

Đây đều là tất ứng mọi việc.

NGÀY MÃN là ngày Ngọ:

Thiên phú.

Giáp Ngọ có thổ quỷ.

Bính Ngọ bình thường, không thể thấy tốt.

Mậu Ngọ có Xương quỷ, bại vong, và phạm trùng tang, tức là an táng cũng thuộc không nên.

Canh Ngọ là ngày thập ác, không thể dùng.

Nhâm Ngọ là Thiên đức, Nguyệt đức, dùng là tốt vừa (thứ cát).

NGÀY BÌNH là ngày Mùi:

Cũng giống như tháng giêng, tháng năm, không nên dùng, tức là mưu trù nho nhỏ (tiểu tiểu doanh) là cũng không lợi.

Nếu như Ất Mùi càng thêm xấu, hiểm. Cái số trực Thiên cang, lại phạm Câu giảo, Chu tước.

NGÀY ĐỊNH là ngày Thân:

Giáp Thân, Bính Thân nên phát chặt cây cỏ, phá đất, định tảng, buộc giàn, an táng rất tốt, trong 2-3 năm thêm con, cháu, tiến tài lộc.

Nhâm Thân có Thiên đức, Nguyệt đức, Hoàng la, Tử đàn, Thiên tinh, Địa tinh, Kim ngân khố lâu tinh, che, chiếu, là ngày thập toàn rất tốt, rất lợi.

Mậu Thân, Thiên cang, Không vong, Xương quỷ, bại vong, xấu.

Canh Thân tháng giêng, tháng tư, bỏ, cũng xấu.

Ngày Thân lại thuộc Vãng vong, xuất hành, xuất quân, phó nhậm (nhận việc đi trước) không lấy ngày này.

NGÀY CHẤP là ngày Dậu:

Ất Dậu nên tu tạo, nhập trạch, hôn nhân, khai trương, xuất hành.

Quý Dậu an táng thì rất tốt.

Đinh Dậu an táng thì tốt vừa.

Ất Dậu (Kỷ Dậu?) có cửu thổ quỷ.

Tân Dậu ở Chính tứ phế, không nên dùng.

NGÀY PHÁ là ngày Tuất:

Trực với Nguyệt kiến xung phá mọi việc, không nên dùng.

Bính Tuất, Nhâm Tuất là Sát nhập trung cung, càng xấu.

NGÀY NGUY là ngày Hợi:

Thiên thành, có hung bạo.

Kỷ Hợi có Hỏa tinh, có Văn Xương tinh, che, chiếu, học nên rất tốt, các việc còn lại tốt vừa.

Ất Hợi dùng cũng tốt vừa.

Tân Hợi đàn bà đó kim, "âm phủ đã đến kỳ quyết điều khiển", âm khí toàn thịnh, không có chỗ hợp ở dương gian.

Đinh Hợi lại trực Hắc sát.

Quý Hợi là ngày cuối cùng của lục giáp, ngũ hành không có khí, chủ về tuyệt nhân, lại là Thụ tử, việc không thể dùng.

NGÀY THÀNH là ngày Tý:

Hoàng sa, Thiên hỉ.

Nhâm Tý tuy có Thiên đức, Nguyệt đức, là nhất bạch, chủ việc Mộc đả bảo bình chung (gỗ đánh vào bình quí cuối cùng), là nơi tắm gội ở phương Bắc, ngũ hành không có khí, phú lực nông, nhưng mưu trù nho nhỏ, làm thì có thể. Nếu như khai trương, xuất hành, nhập trạch, sửa sang, và hôn nhân, hạng (?), dùng ngày đó sẽ thấy xấu, bại, họa hại, tai thương. Ngày đó gọi là bình vỡ băng tiêu (phạn giải băng tiêu).

NGÀY THÂU là ngày Sửu:

Tiểu hồng sa, Thiên tặc.

Đinh Sửu, Quý Sửu là sát nhập trung cung, không lợi cho tu tạo, hôn nhân, nhập trạch, phạm cái đó chủ thoái tài, tật bệnh, tranh tụng phải trái, xấu.

Còn lại Sửu là cũng không tốt, phòng tiểu nhân hình hại.

NGÀY KHAI là ngày Dần:

Thiên tặc.

Mậu Dần là Thiên xá, dùng ngày đó lại tốt.

Nhâm Dần có Thiên đức, Nguyệt đức, chỉ nên mai táng và ghép ván làm sinh cơ, dùng cái đó thêm con cháu, tiến điền địa, thăng quan chức, tốt trên hết.

Ngoài đó ra, Dần là tốt vừa, nhưng có lục bất thành, lục bất hợp ở đó, ngưng dùng cái đó, cuối cùng là bất lợi, nên cẩn thận cái đó.

NGÀY BẾ là ngày Mão:

Không nên tạo tác, hôn nhân, mai táng, nhập trạch, phạm cái đó tổn thương, tật đau, lãnh thoái, xấu cho trăm việc, không nên dùng.

Mời xem các phần khác:

Bài viết cùng chuyên mục

Dùng cho khai trương, động thổ, sửa chữa xây cất nhà cửa, nhập trạch (vào nhà mới), tân gia, cưới hỏi, an trang, ký kết hợp đồng, khởi sự, giao dịch, đi - về…những công việc quan trọng.

Tiễn năm cũ đi đón xuân mới đến, người Việt ta, theo phong tục Đông phương cổ truyền, có tục ăn tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài...

Ngày Tam Nương ( 12/11/2013)

Ngày tam nương (tam nương nhật ) theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc là những ngày rất xấu.

Theo sách vở của tiền nhân để lại, việc cưới gả nhất thiết cần tránh những ngày: Thiên đả, Thiên lôi, Tam cường, Tam nương, Sát chủ, Thiên ma.

Trong dân gian vẫn truyền tụng câu "Chớ đi ngày bảy, chớ về ngày ba" hay "Mùng năm, mười bốn, hai ba, Đi chơi cũng thiệt huống là đi buôn" để chỉ những ngày xấu, không may mắn....

Theo quan niệm của Phật giáo, hôn nhân là duyên nghiệp. Theo Phật pháp, khi hai người thương yêu nhau là duyên nghiệp đã ràng buộc hay còn được hiểu là hai người đã hợp với nhau rồi.

Tiễn năm cũ đi đón xuân mới đến, người Việt ta, theo phong tục Đông phương cổ truyền, có tục ăn Tất Niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài...