Đoạn sông ngắn với những vụ án oan “động trời”… (Phần 2)

Ngày đăng: 31/10/2008 00:00:00

Chuyện giải oan hay kết tội “ba mặt một nhời”, “bắt tận tay day tận trán” cho cái tích Thái sư Lê Văn Thịnh hóa hổ giết vua, nếu có, thì là công việc của những người quen tiêu sài những kỷ nguyên, những tỷ triệu năm đã hóa thạch. Một gã thích chữ nghĩa quèn 30 tuổi muốn giải ảo nghi án “Lê Văn Thịnh hóa hổ giết vua” diễn ra từ gần 1000 năm trước, thật quá hoang đường.


 



Phần mộ Trạng nguyên khai khoa, Thái sư Lê Văn Thịnh xây hình cánh hoa sen trắng trong khuôn viên
thanh bạch giữa hồ sen bát ngát được bà con ở Thuận Thành kính cẩn chăm sóc nhiều đời nay. Ảnh: Lãng Quân

Tuy nhiên, sở dĩ tôi mạnh dạn ra nhời, là vì chẳng cần phải có Bao Thanh Thiên đâu! – trẻ lên ba cũng hóa giải được ngay cái nghi án “hóa hổ” làm “việc thí nghịch” giết vua của Lê Văn Thịnh.


Vì sao như thế? Dễ thế sao nghìn năm qua lịch sử dân tộc vẫn chưa thể minh định được?


Xin được mở đầu “sự tích” hóa hổ như sau:


Sách “Đại Việt Sử ký toàn thư”, vẫn được xem là thứ đáng tin cậy và được trích dẫn đủ thứ chuyện của chính sử Việt Nam suốt bao nhiêu năm qua (?), chép rõ: Năm Giáp Tý (1084) Lê Văn Thịnh đã giúp cho nhà Lý thu về 6 huyện và ba động từ tay nhà Tống trong việc bàn về phân chia cương thổ. Một năm sau, ông được phong làm Thái sư. Tuy nhiên, 11 năm sau, vị thái sư này mắc tội giết vua tày đình và dính kiếp lưu đày.


Chuyện xảy ra vào tháng 3, năm Bính Tý (1096) nhân dịp ngày xuân, vua Lý Nhân Tông ngự hồ Dâm Đàm (tức là cái hồ đầy sương mù, đó chính là Hồ Tây của Hà Nội hiện nay) trên một chiếc thuyền nhỏ để xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mây mù có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo khua nước rào rào như các đạo thủy chiến, vua lấy giáo ném bừa. Chốc lát mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi người sợ tái mặt đi. Người đánh cá tên là Mục Thận, quăng cái lưới trùm lên trên con hổ, thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh (Mục Thận sau này vì thế mà được ban thưởng rất trọng, được dùng cả vùng Hồ Tây để làm thái ấp và thụ lộc). Vua nghĩ Lê Văn Thịnh là đại thần có công giúp nước, uy tín lẫy lừng cả trong nước và ở các nước lân bang, không nỡ giết, đày lên trại đầu ở sông Thao…


Đồn rằng, trước đây Văn Thịnh có gia nô nước Đại Lý (Vân Nam) có phép thuật kỳ dị cho nên làm ra như thế để cướp ngôi, giết vua. Sách “Việt điệu u linh” giải thích thêm: Quan Thái sư Lê Văn Thịnh nuôi được một tên gia nô người Đại Lý, có thuật lạ, đọc thần chú xong biến thành hổ báo. Văn Thịnh cố dỗ để người gia nô dạy mình thuật ấy. Học được thuật rồi, liền lập mưu giết tên gia nô và dùng thuật hại vua để cướp ngôi. Có “tài liệu” còn cố gắng lấy bằng chứng về việc Lê Văn Thịnh có khả năng lắc mình biến thành hổ dữ, rằng: hồi còn bần hàn dùi mài kinh sách ở quê, có lần khóa sinh Thịnh đã bất ngờ hóa thành một con hổ trắng ngồi giữa phom màn đang mắc ngay ở tệ xá, khiến mẫu thân của ngài phải bạt vía kinh hồn.


Chuyện diễn ra gần 10 thế kỷ, làm gì có bằng chứng mà… cãi “trắng án” hay kiểu khép tội cho quan Thái sư? Sách cũ viết ba thực bảy hư, các nhà làm sử phong kiến viết sử về vua của mình thì làm sao mà… khách quan được (điều “sai lệch” này, ở nhiều cuốn sách mà bài này đang “dẫn” đã được cố GS Trần Quốc Vượng phân tích nhiều lần)? Một con toán đơn giản: cả thế giới này, suốt dọc dài lịch sử sinh ra và văn minh từng bước của giống người, đã có ai biết lắc mình biến thành hổ trắng chưa? Không có (chứ đừng nói là chưa có). Lê Văn Thịnh không thể hóa thành hổ được. Cái việc ông bị vu hóa hổ hòng giết vua, chỉ là một âm mưu đớn hèn hòng loại cái người tài năng, uy danh lừng lẫy thiên hạ đó ra khỏi cuộc chiến quyền lực của ai đó. Không ngoại trừ người đó chính là nhà vua Lý, với nỗi sợ bị lấn uy quyền do ông ta tưởng tượng ra!


Mà nghĩ cho cùng, cái hồ như Hồ Tây, đã được gọi thành tên là hồ Dâm Đàm, hồ đầy rẫy sương mù, thì ảo ảnh của hổ dữ có thể hiện về bất cứ lúc nào. Sương mù vón cục kéo đến, nhà vua hoảng sợ, quan Thái sư vẫy vùng giúp vua bớt hoang mang, lúc trời trong gió mát, thấy Thái sư ngồi ở thuyền bên cạnh, vua suy luận là hổ trắng hóa thành Trạng nguyên hay Trạng nguyên biến thành hổ để hãm hại “trẫm”- cũng là lẽ có thể hình dung ra được. Đấy là chưa kể, truyền thuyết về việc học được pháp thuật hóa hổ của tên gia nô người Đại Lý rồi văn võ toàn tài của Trạng nguyên khai khoa có dáng đi dũng mãnh như hổ - Lê Văn Thịnh - đã có từ lâu. Ông Thịnh là người có dáng hổ, đi lại, đánh quyền, ăn nói đều oai dũng… như hổ. Phân tích như thế để thấy, dẫu là huyền sử lắc lơ, thì vẫn có quá nhiều dấu hỏi oan khuất để chúng ta cùng bào chữa cho nghi án lạ đời “cái ách giữa đàng” nó “quàng vào cổ” quan Thái sư khả kính Lê Văn Thịnh.


Còn nhiều vấn đề nữa, chịu tư duy một tý, tự dưng Lê Văn Thịnh sẽ được chúng ta cùng minh oan đôi phần. Thái sư Lê Văn Thịnh ngất trời danh vọng thế, tiếm ngôi vua để làm gì? Nếu Lê Văn Thịnh thực sự muốn đoạt vương quyền lên làm vua, với quyền lực của mình, với trí tuệ mẫn tiệp của mình, dĩ nhiên là ông không bao giờ chọn cách hóa hổ trên hồ Dâm Đàm giết chết học trò của mình là nhà vua đương thời - bởi giả dụ giết “thành công” ông vua ấy, thì ông Thịnh có đạt được mục đích gì đâu? Giết vua phải kèm theo binh quyền, hay những thủ đoạn tày trời khác nữa chứ; trước sau, không thấy mảy may sử cũ nói dòng nào về bất cứ “dự định” lên làm vua của nghè Thịnh.


Tuyệt nhiên không thấy chép gì về việc ông thù oán gì nhà Lý, ông cũng không theo phe phái, không “cánh hẩu” với ai, ông cũng chưa bao giờ có ý định làm vua. Chỉ thấy chép ông hết lòng phò tá nhà Lý, ông dùng ba tấc lưỡi, liều mình đi sứ nhà Tống đòi được vùng đất Lạng Sơn, Cao Bằng (hiện nay) về cho Đại Việt hẳn hoi. Mà việc ông hóa hổ, đã được các sách chép rất hàm hồ, dưới ánh sáng khoa học duy lý hiện nay, ai cũng biết, đó là điều hoang tưởng. Vả lại, biết hóa hổ, sao Lê Văn Thịnh bao năm bị lưu đày, phần mộ giờ ở quê, không thấy ông tiếp tục… hóa hổ? Mà có phép thuật sao ông lại để cái kết oan khuất của mình cứ thảm thương như vậy, ông sẽ phải biết tự minh oan hoặc quay về trừng trị những kẻ đốn mạt kia chứ? Ông có minh oan hay chống lại các thế lực “giết chết” sự nghiệp của mình không? Nếu Lê Văn Thịnh không bị oan, tại sao có bức tượng rồng (dạng rắn) oan khiên thấu trời xanh như thế đặt ở đền thờ ông? Dù ông Thịnh cho bí mật tạc lúc sinh thời (“về vườn” ở quê), hay ai đó đời sau cho tạc, thì cũng là để gửi gắm nỗi oan khiên động trời của ông Thịnh (theo nhà nghiên cứu mỹ thuật Phan Cẩm Thượng, bức tượng “ông rồng đá” kỳ lạ có thể đã được ra đời vào thời Hậu Lê). Vả, nữa: nếu thật sự ông Thịnh có ý định giết vua, thì dù công trạng của ông cao đến thế nào, ông cũng không bao giờ được tha chết - nhà Lý có các đạo luật tàn độc dành cho tội phản nghịch, gọi là “Thập ác” (nhất là khi những kẻ có pháp thuật hô phong hoán vũ, có thể quay lại giết cả ba họ nhà vua bất cứ lúc nào như cách mà người ta “hiểu” về Lê Văn Thịnh); việc Lê Văn Thịnh làm việc thí nghịch mà được tha chết, chỉ bị lưu đày, có thể hiểu: ông đã bị người ta “xử” để cho bị vô hiệu hóa. Vì uy tín của ông ở Đại Việt và ở các lân bang quá lớn, người ta không muốn oai của “tớ” át quyền “chủ”! Nỗi đau của Nghè Thịnh, là nỗi đau của “chữ tài liền với chữ tai một vần”.


Về những cống hiến cho triều Lý của Lê Văn Thịnh. Ví như việc Lý Thường Kiệt và Tông Đản đem quân đánh thẳng sang các châu Ung, Liêm, Khâm của nhà Tống để “phủ đầu mưu đồ xâm lược” của giặc phương Bắc. Khi quân Tống đem quân của 9 tướng với “binh hùng tướng mạnh” nhiều như cỏ, kết hợp với quân Chiêm Thành, Chân Lạp hè nhau xâm lấn Đại Việt nhằm trả thù việc “táo gan” của Lý Thường Kiệt và Tông Đản. Tuy cuộc xâm lăng này của giặc Tống bị đánh bại bởi phòng tuyến sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt, nhưng trước khi rút về, quân Tống vẫn chiếm mất châu Quảng Nguyên (gồm các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn ngày nay) của Đại Việt (lý do nhà Tống chiếm được 6 huyện 3 động kia là do “thổ hào” địa phương đã đớn hèn dâng đất của triều đình Đại Việt cho giặc để cầu vinh). Trong cái cuộc uốn ba tấc lưỡi của Trạng nguyên Lê Văn Thịnh nhằm lấy lại 6 huyện 3 động cho Đại Việt kia, sử sách còn lưu truyền câu nói bất hủ của Nghè Thịnh với đại diện nhà Tống: Đất thì có chủ, các viên quan giữ đất ấy đem nộp cho người khác và trốn đi thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Sự chủ giao cho mà lấy trộm đã không tha thứ được, mà trộm của hay "tàng trữ" thì luật pháp cũng không cho phép, huống chi nay lại mang đất lấy trộm dâng để làm dơ bẩn sổ sách nhà vua”. Lý lẽ xác đáng, cứng cỏi, đủ “dương đông kích tây” của Lê Văn Thịnh đã khiến nhà Tống phải trả toàn bộ đất đai cho Đại Việt. Sau phi vụ này, ông Thịnh được phong Thái sư. Xin nhắc lại và nhấn mạnh: Quan Thái sư, lại là thầy dạy học của vua, cớ gì ông Thịnh định hóa hổ giết vua? Mà giết được vua trên cái hồ sương khói ấy, chắc gì đã cướp được binh quyền, chắc chắc gì đã lập được một vương triều mới? Đây cũng là ý kiến tâm huyết, nhiều trăn trở của nhà thơ Dương Kiều Minh, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Hà Tây (cũ) - thông qua một bài viết công phu - khi ông về viếng Thái sư Lê Văn Thịnh ở Bắc Ninh. Đúng! Người đã trên thông thiên văn dưới tường địa lý như Lê Văn Thịnh, nếu muốn soán ngôi của vua Lý, ông sẽ chẳng bao giờ bắt đầu bằng cách theo vua ra hồ Dâm Đàm để hóa hổ, ăn thịt vua (!?).


 



 



Đền thờ "hóa gia vi tự" và bức tượng Thái sư Lê Văn Thịnh (trong đền) ở xã Đông Cứu, huyện Gia Bình,
Bắc Ninh. Nghè Thịnh là thành hoàng của làng, là bậc Thánh, là biểu tượng tài năng và đức độ. Ảnh: Lãng Quân.


Sự việc kỳ ảo, đau đớn kỳ lạ mang tên Lê Văn Thịnh hóa hổ này đã được nhiều đời, suốt hơn 900 năm qua, thi nhau bàn luận. Tôi nhớ lời của ông Lê Khắc Thuần, sau khi trích dẫn “tích” Lê Văn Thịnh hóa hổ đã ‘bình” như sau: “Tháng 3 ở Hồ Tây, sương mù bỗng chốc xuất hiện cũng là điều dễ hiểu. Nay hiện tượng này vẫn có (ở Hồ Tây) huống chi là ngót ngàn năm trước, quanh hồ cây cối còn hoang vu. Giữa đám mây mù, vua quan nhìn gà hoá cuốc, Văn Thịnh bởi thế mà mang tội trong chỗ không ngờ chăng? (…) Không thấy sử chép là ông đã nói gì khi bị bắt, nhưng chắc là khó nói, bởi ý vua đã quyết, có nói cũng bằng thừa thôi”. (Theo “Việt sử giai thoại” của Nguyễn Khắc Thuần - NXB Giáo Dục). Lời bình đau đớn, chua xót, đích đáng, thống thiết như ngậm sẵn nước mắt của người đời sau với án oan Trạng Thịnh.


Tôi tâm đắc với việc nhiều nhà nghiên cứu đã đặt vấn đề: Lê Văn Thịnh bị hãm hại, là bởi vì tư tưởng cải cách của ông. Nếu so ngang sang lịch sử Trung Quốc, thời ông Thịnh cùng với triều đại của Vương An Thạch. Vương An Thạch đã hăng hái cải cách, đụng chạm đến quyền lợi sát sườn bẩn thỉu của quan lại trong triều, và bị nhà Tống đẩy về hưu trí. Lê Văn Thịnh cũng năng nổ “trai thời trung hiếu làm đầu” với những cải cách lớn, và ông đã bị hãm hại. Thêm nữa, những ông chủ (vua) thì chỉ có thể chung sống lúc khó khăn, chứ khi no đủ rồi là họ sẽ không cần các trung thần. Hết thỏ thì làm thịt chó săn, con chim bay cao đã hết thì cung tốt phải được cất giấu đi, nước đã bình định xong thì mưu thần phải mất (ý ở Thái Công Binh pháp, Khương Tử Nha)…


Dù ai nói ngược nói xuôi, dù các loại sử sách có viết khá tọc mạch, vua Tự Đức có cả bài thơ “kết tội” Thái sư Lê Văn Thịnh hóa hổ giết vua (Văn học đô vi tiến thủ tư/ Man nô tư súc nhật căng kỳ/ Thần qua nhất kích hôn phần tán/ Yêu hổ nguyên lai thệ Thái sư), dù Tào Mạt có dựng kịch về Lê Văn Thịnh là kẻ bán nước hại dân, thì trong lòng đông đảo bà con Đại Việt, đặc biệt là quê hương Kinh Bắc, ông Nghè Thịnh vẫn là một con người kiệt xuất, tâm đức sáng như sao trời, một vị Thánh sống! Càng về gần đây, các bậc trí giả càng có nhiều công trình minh oan cho Lê Văn Thịnh. GS sử học Phan Huy Lê đã chính thức lên tiếng phản đối sự “vu oan giá họa” cho nghè Thịnh, nhiều cuộc hội thảo và các công trình công phu của các nhà làm sử đã thể hiện điều đó. Mới đây nhất, nhà văn Hoàng Giá, người con của quê hương Thuận Thành cũng đã đi điền dã và nghiên cứu cực kỳ công phu, cho ra đời tiểu thuyết lịch sử “Sương khói Dâm Đàm” (NXB Công an Nhân dân, năm 2006) viết về cuộc đời và án oan Lê Văn Thịnh, qua đó khẳng định vị Trạng khai khoa nước Việt ta là một con người kiệt xuất, chưa bao giờ mảy may nghĩ đến những điều “thí nghịch”. Bằng chứng là phần mộ ông vẫn được gìn giữ cẩn thận (xem ảnh), rất nhiều di tích ở nhiều vùng vẫn thờ ông như Thành Hoàng, như một vị Thánh bất tử (hàng chục địa điểm thờ tự)… Mà, nghĩ cho cùng, công đức của một con người giúp dân giúp nước như Lê Văn Thịnh, việc ông sống trong lòng dân mới là quan trọng, mới là cái lẽ sống… bất hủ nhất của một bậc trượng nghĩa.


Về những điều kỳ lạ của bức tượng rồng (rắn) đá như kỳ 1 loạt bài “án oan động trời” mà Vietimes đang đề cập, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ, giảng viên Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội), người đã có một thời gian dài tìm hiểu về nhân vật Thái sư Lê Văn Thịnh đã từng nói với báo chí như sau, xin phép được trích lại nguyên văn: "Ông Rồng" thực sự là một pho tượng độc đáo và ở Việt Nam ông chưa từng thấy có một hiện vật tương tự nào. Tuy vậy tôi từng thấy (qua ảnh) một chiếc ấn đồng thời Tây Hạ có hình ảnh con rắn tự cắn vào mình tương tự như vậy trên "xà nữu" tức là cái núm cầm của ấn. Hình ảnh con rắn trên chiếc ấn đồng và hình ảnh "Ông Rồng" (ở đền thờ Lê Văn Thịnh, Bảo Tháp, Bắc Ninh) tương đối giống nhau, đặc biệt về phong cách, sự dữ dằn... Điều đáng chú ý là Tây Hạ, vương triều tồn tại từ năm 1032 đến 1227 tại địa bàn các tỉnh phía tây bắc Trung Quốc hiện nay, về mặt thời gian cũng tương đương với nhà Lý ở Việt Nam và nhà Tống ở Trung Quốc. Chính vì thế để có đánh giá chính xác về nguồn gốc pho tượng này thì cần phải liên hệ đến văn hóa trong khu vực chứ không chỉ riêng bức tượng đó".



GS Phan Huy Lê:


Những vở kịch xây dựng hình tượng Lê Văn Thịnh hóa hổ, giết vua là… sai lầm!


Hơn một lần, chính GS sử học Phan Huy Lê trả lời báo chí về vụ án oan Lê Văn Thịnh hóa hổ làm việc “thí nghịch” giết vua như sau:


- Lê Văn Thịnh là người khai khoa trong lịch sử VN, ông đỗ đầu khoa thi đầu tiên của nước ta vào năm 1075. Sau đó có một sự kiện mà sử chép không rõ ràng, đưa đến việc ông bị kết tội là người có âm mưu hãm hại vua Lý. Nhưng sự thật hoàn toàn không phải như vậy. Về việc này, Hội sử học đã tổ chức các hội thảo để xác minh lại. Nhưng rất tiếc, ngay cả hiện nay, trên sách báo và trong nhiều phát ngôn, người ta vẫn lên án Lê Văn Thịnh và đó là điều không thoả đáng.


Cho nên sắp tới đây chúng tôi sẽ phối hợp với các tỉnh tiếp tục tổ chức hội thảo để "minh oan" cho ông. Trong lịch sử có nhiều người bị oan. Có những người bị oan tày trời như Nguyễn Trãi nhưng may mắn được xác minh sớm, nhưng chẳng hạn vợ ông, bà Nguyễn Thị Lộ, thì gần đây mới được nhìn nhận lại. Cho nên cần rất khách quan mới có thể trả lại cho lịch sử các nhân vật, các sự kiện với bộ mặt thật.


Tôi khẳng định, những vở kịch xây dựng hình tượng Thái sư Lê Văn Thịnh hoá hổ, giết vua; hay Đinh Điền (thời Đinh Tiên Hoàng) phản bội... là sai lầm. Sau rất nhiều hội thảo do Hội KHLS VN tổ chức, Bộ VHTT đã có văn bản chính thức về việc này và yêu cầu các kịch bản phải đính chính. Chúng ta không thể "đổ oan" cho tổ tiên như vậy được!

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.