Đình cổ Vạn Niên (Hải Dương)- đặc trưng lối kiến trúc thế kỷ 17- 18

Ngày đăng: 01/05/2010 00:00:00

Đình Vạn Niên thờ Nguyễn Quý Minh, người có công giữ nước thời Lê Thánh Tông.

Đình được xây dựng vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, trùng tu vào năm Tự Đức thế kỷ XIX (1866). Kiến trúc đền theo kiểu tiền nhất, hậu đinh, quy mô lớn và đồng bộ từ tam quan, giải vũ, tiền bái và hậu cung. Mặt tiền nhìn về hướng tây. Tuy bị xuống cấp và sửa chữa nhiều lần nhưng quy mô kiến trúc còn khá đồng bộ.

Đình không còn cột đồng trụ, tam quan được xây dựng vào thế kỷ XX, khá lớn, dài 11,5m, rộng 3,5m, cao 7m. Cửa xây cuốn. Từ tam quan vào tền tế qua một sân rộng tới 200 mét vuông. Tả hữu có giải vũ, mỗi cái 5 gian (11m x 3m).

Tiền tế có 5 gian, hạ xối, kiểu 4 mái dài 19,2m, rộng 8,8m tính từ chân cột quân, 8 cột cái cao 3,8m, đường kính 36,6cm. Cột quân 16 cái, cao 3m, đường kính 27cm.  Các vì làm theo kiểu con chồng đấu sen, chạm rồng và hoa lá cách điệu, nét chạm sâu khỏe khoắn. Bờ nóc có đắp hoa chanh, các đao quột mềm mại kiểu rồng chầu, phượng mớm.

Cách tiền tế 2m về phía đông là trung đình, có chiều dài như tiền tế nhưng lòng rộng hơn10,4m, cột cái đường kính 42,6m, cột quân cao 2,7m. Đình trung cũng hạ xối, tạo dáng 4 mái cong, phong cách kiến trúc tương tự như tiền tế nhưng còn giữ được nhiều mảnh điêu khắc thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Các hình tứ linh đều có đao hỏa. Trước đây, trần gian giữa ghép ván, sơn son, vẽ mây tản, hai gian kế tiếp có sàn nhưng đã bị hư hại trong kháng chiến chống Pháp.

Tiếp nối trung đình là hậu cung 2 gian với kiến trúc con chồng, cánh sen giản dị nhưng vững chắc. Tại đây dặt ngai thờ Thành hoàng và bài trí nhiều đồ tế tự có giá trị, tiêu biểu là 2 bộ cửa võng sơn son thiếp vàng. Đình tiếp tục được trùng tu vào các năng 1997-2000.

Lễ hội hàng năm vào ngày 12 tháng Giêng. Hội có nhiều trò vui dân gian, trong đó có trò " xông hệ", một hình thức tái hiện chiến công của Thành hoàng.

Đình được xếp hạng di tích vào năm 1992.

Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.