Chân dung danh tướng họ Đào qua các di tích, thần phả

Ngày đăng: 13/06/2010 00:00:00


“Chân dung” danh tướng họ Đào


Sỡ dĩ, tên tuổi của vị công thần bậc nhất triều Lý - Thái sư Á vương Đào Cam Mộc giờ được ít người nhắc đến là bởi, tên tuổi, quê hương bản quán của ông chỉ được nhắc thoáng qua trong chính sử. Nhưng chỉ cần vài chữ quý báu đó thôi cũng đủ để các nhà nghiên cứu lấy đó làm cơ sở tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của ông đối với đất nước. Vài năm trước, các nhà nghiên cứu thuộc Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội Sử học Hà Nội đã tổ chức những cuộc điền dã trải suốt từ Hải Phòng, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình và Thanh Hóa... Tại nhiều di tích, các nhà nghiên cứu đã phát hiện một số thần phả, ngọc phả, các điển tích ghi chép khá kỹ về cuộc đời  danh tướng họ Đào.



Nơi thờ danh tướng Đào Cam Mộc ở thôn Tràng Lang (nay là Yên Trung, Yên Định, Thanh Hóa)


Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Vinh, trong một chuyến điền dã, ông đã tìm thấy bản Ngọc phả tướng Đào Cam Mộc và Công chúa Thiềm Hoa An Quốc tại phủ Vũ Bị trong khuôn viên chùa Vũ Bị xã Vũ Bản, huyện Bình Lục - Hà Nam. Đây là bản ngọc phả được chép vào năm 1502 có nhắc đến khá rõ ràng cuộc đời của vị danh tướng này. Theo đó, Đào Cam Mộc sinh năm 942 tại làng Lang Thôn, xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa (chính sử chép ông mất năm 1015). Cũng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Vinh, tại Bình Lục Hà Nam hiện còn lưu truyền nhiều giai thoại về những lần phá Tống, bình Chiêm của vị danh tướng họ Đào vào năm 981-982. Đến đời Lê Ngọa Triều, triều đình đổ nát, dân chúng lầm than, là một người yêu nước, thương dân, nhạy bén và mưu lược, ông đã cùng Thiền sư Vạn Hạnh tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua, tránh cho đất nước một cuộc binh biến.


Ông chính là người sau này được vua Lý Thái Tổ giao cho trọng trách tổ chức thành công việc dời đô từ Hoa Lư chật hẹp ra Thăng Long với địa thế thuận lợi, tạo điều kiện cho sự phát triển lâu dài của dân tộc. Đánh giá về việc làm này, nhà nghiên cứu Đào Duy Cảnh cho rằng, Đào Cam Mộc đã tạo ra sự đột biến mới lạ lần đầu tiên trong lịch sử phong kiến là một Hoàng đế lên ngôi không nhờ cha truyền con nối hay qua giáo mác, gươm đao đầu rơi máu chảy, mà do cả triều thần tiến cử. Ông còn đề ra kế sách ai có công được thăng chức, còn các quan lại giữ nguyên chức cũ để ổn định tình hình, tránh sự phản ứng của hoàng thân quốc thích nhà Lê. Ông cũng đã giúp vua sắp xếp lại hệ thống quan lại, chia địa giới hành chính, đề xuất việc kinh lý các tỉnh miền ngoài để tiện đặt kinh đô mới.


Cần có hình thức tôn vinh xứng đáng


Nhà nghiên cứu về Hà Nội Nguyễn Vinh Phúc cho biết, trước năm 2007, ông vẫn không biết gì nhiều về danh tướng họ Đào này ngoài những dòng ít ỏi được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư. Nhưng cũng là may mắn, trong các chuyến điền dã gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm ra cả một hệ thống các di tích thờ ông cùng vợ là An Quốc công chúa, như di tích lịch sử văn hóa thờ Đào Lôi là con công thần nhà Lý, Đào Mộc ở An Đồng, An Dương, Hải Phòng, tiếp đó là chùa Vũ Bị, Bình Lục, Hà Nam. Chùa này hiện còn 2 tấm đá cổ là mốc ruộng đất khắc nội dung về các mảnh đất đã được nhà vua ban cho Đào Cam Mộc và phu nhân... Khi nghiên cứu về Đào Cam Mộc, có một địa danh không thể bỏ qua đó là Cổ Loa - Đông Anh - Hà Nội.



Cổ Loa - mảnh đất từng là nơi danh tướng Đào Cam Mộc chọn làm tư dinh


Khi xưa, mảnh đất này đã được Đào Cam Mộc chọn là địa điểm xây dựng tư dinh. Ông trở thành ông tổ họ Đào ở Cổ Loa từ đó. Để tưởng nhớ công lao của ông, ngay từ khi ông mất năm 1015, người dân Cổ Loa đã dựng một từ đường để quanh năm hương khói thờ phụng ông. Đến cuối triều Lê sơ do binh hỏa, từ đường bị thiêu trụi. Mãi cho tới năm Thành Thái thứ 9, từ đường lại được dựng lên trên nền cũ với 5 gian tiền tế đồ sộ. Đáng tiếc, năm 1953, thực dân Pháp đã ra lệnh tàn phá từ đường, những di vật còn giữ được cho đến nay là một lư hương cổ bằng đá, 5 văn bia ghi gia phả thứ tự các đời từ 1681 đến 1931. Sau khi từ đường bị tàn phá, nhiều gia đình ở Cổ Loa đã lập bát hương, thờ ông ngay tại nhà mình...


GS Đinh Xuân Lâm, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho rằng, việc nhận định lại một lần nữa thân thế, sự nghiệp của Đào Cam Mộc và những đóng góp của ông với đất nước, Thủ đô là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa khi Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội đang đến rất gần. GS Đinh Xuân Lâm đề xuất và mong mỏi cần một hình thức tưởng niệm xứng đáng với công lao của vị danh tướng họ Đào, cụ thể như khôi phục lại từ đường thờ ông tại Cổ Loa. TP.HCM lâu nay đã có một con phố mang tên Đào Cam Mộc, còn Hà Nội, tại sao không?


Bài viết cùng chuyên mục

Sự sụp đổ của thành Đa bang không chỉ chôn vùi sự nghiệp của vương triều Hồ, mà còn đánh dấu sự thất bại của phép dùng binh chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, vũ khí, thành quách trong điều kiện phải...

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá việc đất nước thống nhất là sự xâm lược, thôn tính lãnh thổ, mạnh được yếu thua, cách ứng xử phong kiến mang nặng tính cục bộ mà cho rằng Đại Việt là của người...

Sau cục diện Nam – Bắc triều kết thúc, hình thành cục diện Đàng Ngoài – Đàng Trong. Như vậy, đến giai đoạn này, quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam được thực hiện ở Đàng Trong...

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giỏi thủy chiến. Điều này đã được chứng minh bằng nhiều trận thủy chiến “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử.

Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801 có rất nhiều điểm tương đồng với một trận thủy chiến nổi tiếng khác diễn ra trước đó 16 thế kỷ.

Trong lịch sử cổ - trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng cải cách tài chính thì chỉ có một, đó là cuộc cải cách của Trịnh Cương (1716-1729).

Cải cách hành chính của Minh Mạng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi xã hội phong kiến Việt Nam đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện.

Dù thời xưa, phận đàn bà “ba chìm bảy nổi” nhưng nhiều người trong số họ vẫn vượt lên cái lẽ “nữ nhi thường tình” để gánh vác quốc gia đại sự.

Theo các sử liệu của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong hơn 1000 năm, quân đội của Đại Việt đã hàng chục lần tấn công vào lãnh thổ láng giềng phương Bắc.

Thủy quân dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1777) đã hoàn toàn làm chủ vùng biển đảo Đàng Trong, đặt nền móng xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.