Các phế tích lò nung ở miếu Đồng Cổ (Từ Liêm, Hà Nội)

Ngày đăng: 22/03/2010 00:00:00

Các phế tích lò nung phân bố tập trung ở gò đất cao phía sau ngôi miếu hiện tại, miệng lò gần như lộ thiên, nằm trong lớp thứ hai (lớp văn hoá thời Lê) của các hố khai quật. 3 phế tích lò nung đã được nghiên cứu, khai quật:


- Phế tích lò nung thứ nhất tìm thấy ở độ sâu từ 1 đến 1,3m trong hố khai quật số 2, ký hiệu 07.MĐC.HII, với miệng và tường lò đã xuất lộ. Ngoài phế tích lò nung, còn tìm thấy các phế phẩm lò nung, con kê và các đống tro than phản ánh hoạt động của lò nung. Lò nung có cấu trúc khá "đặc biệt" lần đầu tiên được xác định, với một khoang sấy vật liệu ở giữa, hai bên có hai bầu đốt và hố "thao tác" đào sâu ở phía trước bầu đốt phía nam.












Lò nung vật liệu cổ

+ Khoang sấy vật liệu, hình chữ nhật, dài 1,8m, rộng 1,38m, cao còn lại 0,78m, thành lò dày từ 8,5 đến 10cm, miệng khoang sấy thu nhỏ dần lên phía trên. Xung quanh chân, 4 góc và hai thành bên tạo các rãnh dẫn nhiệt. Trong khoang sấy có ngói, con kê và tường lò, đặc biệt là các hàng ngói là sản phẩm của lò nung.


+ Bầu đốt, hình phễu làm phình thành vòm, thu nhỏ dần ra phía cửa đốt lửa. Bầu đốt phía bắc rộng 1,87m, dài 1,22m, cửa đốt hình tròn, đường kính 0,58m. Bầu đốt phía nam, rộng 2m, dài 1,4m, đường kính cửa đốt 0,44m. Cả hai bầu đốt được làm thoải dần về hai phía, nền bầu đốt được khoét sâu tạo vát, dẫn lửa lên nền khoang sấy. ở vị trí thổi lửa, từ bầu đốt lên khoang sấy mỗi bên được khoét 3 ô hình chữ nhật nằm. Đặc biệt, ở mỗi cửa lò còn thấy rõ dấu vết của đất cháy bịt cửa đốt ủ lò khi đã đủ nhiệt độ cho sản phẩm nung.













Phế tích lò nung vật liệu cổ

Từ qui mô, cấu trúc cùng sản phẩm lò nung có thể xác định đây là lò nung ngói (ngói mũi lá, thân chữ nhật, mỏng, đỏ sậm). Ngói xếp đứng hoặc nằm, giữa các hàng là con kê. Các con kê làm bằng đất ướt, nặn thành các thỏi dài hoặc dẹt. Dưới đáy khoang sấy có đường dẫn nhiệt tạo bởi tường đất. Căn cứ vào sản phẩm, đây là lò nung vật liệu (ngói), niên đại khoảng thế kỷ 18.


- Phế tích lò nung thứ hai tìm thấy trong hố khai quật số 5, ký hiệu 07.MĐC.HV, ở sau Hậu cung. Cũng như phế tích thứ nhất, ngoài phế tích lò nung, còn tìm thấy các phế phẩm lò nung, con kê và vết tích tro than, song mờ nhạt hơn.













Mặt bằng phế tích bếp lò

Phế tích lò nung ở độ sâu 0,3m, lò hình gần bầu dục, phía sau phình to, thu nhỏ dần về phía cửa lò ở phía đông nam. Đây là dạng lò có vòm kín (lò cóc), đắp vồng, phía sau là ống khói được tạo bởi 2 viên gạch xếp nghiêng (?). Lò tạo dốc dần về phía đông nam, dài còn lại 2,5m, rộng 1,25m, đáy lò lát ngói mũi.


Cấu trúc và các phế phẩm thu được cho thấy đây là lò nung vật liệu kiến trúc, song lò chưa qua sử dụng mà mới chỉ trong giai đoạn sấy vỏ lò đã bị sập (vòm lò cháy nhẹ, vàng nhạt, bở, còn vết tích than tro dường như không thấy).


- Phế tích lò nung thứ ba, gần như xuất lộ trong hố 07.MĐC. Lò hình gần bầu dục, đường kính khoảng 77 - 88cm, cửa được tạo bởi hai thành hai bên để hở dài 35cm, rộng 70cm quay về phía đông. Tường lò cao còn lại 59cm, dày từ 12 đến 14cm, trong màu xám, ngoài màu nâu đỏ, trong bầu lò có nhiều mảnh đá vôi đã bị phong hóa và mảnh thành. Với kích thước nhỏ bé, cấu trúc đơn giản, tường lò khá "tạm bợ", có thể là bếp phục vụ "đội" thợ của khu lò nung liền kề (?).













Phế tích bếp lò

Các phế tích lò nung mới thấy ở miếu Đồng Cổ, đặc biệt là phế tích thứ nhất là lò có cấu trúc đặc biệt, lần đầu tiên tìm thấy trong diễn biến chung loại hình lò nung Việt Nam. Cùng với phế tích thứ hai và phế tích thứ ba (bếp lò ?), đã cho biết hoạt động sản xuất thủ công vào thế kỷ 18. Hơn nữa, qua đó nó cũng phần nào phản ánh qui mô, diện mạo của ngôi miếu Đồng Cổ khi có cả hệ thống các lò nung vật liệu phục vụ cho việc xây dựng.


Bài viết cùng chuyên mục

Cửu đỉnh được coi như biểu trưng và là pháp khí của triều đình nhà Nguyễn đương thời.

Ở trước Hiển Lâm Các - đối diện với Thế Miếu trong Đại Nội Huế có 9 cái đỉnh đồng lớn, gọi là 9 đỉnh Triều đại. Dân gian thường gọi là Cửu Đỉnh. Mỗi cái nặng trên dưới 2 tấn, được khởi đúc từ cuối...

Các bức ảnh ghi lại việc thiết lập hành chính cũng như đời sống phong phú của người dân Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa.

Tư liệu quý khẳng định chủ quyền Trường Sa – Hoàng Sa

Mộc bản triều Nguyễn gồm 34.618 tấm với 55.318 mặt khắc, chứa đựng nội dung của 152 đầu sách với 1.935 quyển.

Dưới triều Nguyễn, do nhu cầu phổ biến rộng rãi các chuẩn mực của xã hội, các điều luật bắt buộc thần dân phải tuân theo, để lưu truyền công danh sự nghiệp của các vua chúa, các sự kiện lịch sử...,...

Chùa Một Cột nằm trên phần đất thôn Phụ Bảo, tổng Yên Thành cũ. Đến giữa thế kỷ XIX thôn này đã hợp nhất với thôn Thanh Ninh và mang tên mới là Thanh Bảo. Đây là một ngôi chùa có kiến trúc hết sức...

GiadinhNet - Xã Cao Thắng vẫn còn dấu tích của một công trình kiến trúc được xây dựng bằng đá ong độc đáo đã bạc màu thời gian.

Mùa Xuân Canh Tuất (1010) tại kinh đô Hoa Lư, triều thần suy tôn điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế thay thế nhà Tiền Lê. Tháng 7, vua hạ chiếu dời đô về thành Đại La với lý do:...

Cửu Đỉnh ở Huế đang được Nhà nước Việt Nam xét duyệt để công nhận là một bảo vật quốc gia. Trên bộ tác phẩm nghệ thuật bằng đồng này, phần lãnh hải của Việt Nam đã được cổ nhân lưu lại một cách cụ...