Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Thai phục

Ngày đăng: 19/04/2008 00:00:00

Những thời sư xưa nay, phần nhiều chỉ thấy long sơn khởi phục nhiều thì cho tốt. Có biết đâu khởi phục nhiều , cũng chưa phải là long thật tốt, vì khởi phục nhiều là thể độ của chi long, chứ như đại cán long, thì bất luận cao hơn, hay bình cương, thường hay ngang nhiên, đi thẳng lưng, không hay khởi phục và cũng không đột tinh phong nữa, nên có câu: “ Chính long đầu thượng bất sinh phong” là chỉ vào nghĩa thế! Nếu long mạch đi thẳng băng được vài ba dặm thì “ quý bất khả ngôn”, ( hay không thể nói xiết), hoặc một dặm hay nửa dặm, mà kết huyệt, đều là quý huyệt, thượng hạng cả.
Phần nhiều người chỉ biết lấy khởi phục là hay, mà không biết hay ở chỗ nào, chính là hay ở cho đoạn long bình trực ấy ( đi thẳng và băng).
Và chỉ thấy nói long sơn trường trực là quý, thích ý cho rằng hay có biết đâu trường trực, lại không phải là quý long, mà là cái thể độ của tiện long. Chứ như quí long thì bất luận là núi cao, hay đồi bằng đều phải mở dương hai cánh, rộng ngang ra hai bên, ( tức là khai trướng). vì có mở rộng ngang ra, thì mới là đại nghinh, đại tống ( đưa đón nhiều) thì mới có nhiều kiểu quý, cách hay.
Vậy chỉ có “ hoành khoát chi long” ( long sơn mở rộng ngang) mới là cục quý, bất luận cán long hay chi long đều là đại quý cả. Chính là cái hay ở chỗ hoành khát đó, chứ không phải long sơn trường viễn ( dài xa) mà cho là cực hay, thì chưa thực là danh sư.
Chính trong sách địa lý của các Lý gia cổ truyền, cũng đã có mâu thuẫn, tương phản ( trái nhau) về những cái chưa xác, hay là chưa thấu đáo, hoặc không đúng với “ Thiên địa chi chính khí”. Nhưng mỗi cái tương phản, lại là một cái hay, vì đã công khai triết lý, phân tách rõ rệt, chứng kiến kinh nghiệm, không còn chối cãi được nữa, thì mới công nhận là phải, đúng là chí lý.


Ghi thêm về Cán Long và Chi Long

A. – Cán Long
thì phần nhiều là những núi cao lớn, hùng cường, cương trực. Đi thăng bằng, không hay khởi phục và không hay đột khởi tinh phong ở trên long tích, trong rất là nguy nga, đồ sộ, tôn nghiêm, thẳng thắn, không chầu hướng vào chi long. Hoặc đi dài mấy trăm dặm, mấy ngàn dặm không chừng. Phân ra nhiều đại chi, tiểu chi hai bên tả, hữu, làm sơn sa hộ vệ tiền nghinh, hậu tống. Khởi phục bác hoán, biến hóa tinh phong, thành muôn ngàn kiểu quý, cách hay. Trùng trùng, điệp điệp, phô trướng, cao ngất giáp chân mây! Dưới thì hai bên khe to, suối lớn, là nội thủy chẩy theo. Ngoài xa thì trường giang, đại hà, thủy lai triều tụ. Kết huyệt phần nhiều ở trên đỉnh núi, lấy những núi cao làm long, hổ bao vi kết cục. Lấy sông to, hồ rộng, hoặc vịnh biển, làm minh đường tụ thủy v.v… Thật là bao la, quảng đại như vạn lý trường thành. Những chỗ có đại thể như vậy, tức là đại địa cao quý, tất nhiên phát phúc, sinh ra những người thông minh, tuấn kiệt, cực phẩm nhân gian, như hạng Hoàng vương, Đế Bá, Hùng Tướng phi thường, vi nhân thiên hạ! Ít nhất cũng công hầu, khanh tướng, xưa kia ( tức là cấp Tổng thống, Thủ tướng, Quốc trưởng thời nay).

Những đại địa này, thường hay ở nơi sơn lâm hiểm trở, khi đi xem phải kiếm lối đi lên đỉnh núi cao mà chiếu, thì may ra mới nhận được long mạch từ đâu phát nguyên. Chỗ nào khởi đính, chỗ nào quá giáp, chỗ nào phân tán, chỗ nào đoàn tụ v.v.. Chỗ phân tán long mạch còn đang đi. Cần nhận biết chỗ Sơ lạc ( mới đầu xuống), trung lạc ( quãng giữa), mạt lạc ( đoạn cuối); xem ba đoạn này âm dương thế nào, mà tế nhận kết huyệt hoặc huyệt ở chỗ khởi phục, hoặc ở chỗ bình cương, hoặc ở chỗ bình dương chẳng hạn. Thấy chỗ nào sơn xuyên tụ hội là sơn chỉ thủy giao, tức là kết cục, huyệt trường ở trong vòng nơi ấy. Nếu huyệt trường ở vào sơn lâm hiểm trở thì khó mà chân đơn bước tới được.

Ngày xưa, Cao vương ( Cao Biền) sang đô hộ nước ta, y là người am hiểu địa lý. Y làm cái diều to, rồi ngồi lên trên mới trông được chỗ có đại địa; vì vậy y đã biết, mà triệt mất mấy cái đại long mạch có đại địa của nước Nam ta.

Hiện tôi đã được mục đích thấy ở khu làng Triệu, Cung Bái và vùng Vàng Gián thuộc tỉnh Hải Dương giáp Bắc Giang, do giải núi Huyền Đinh, phát nguyên tự dẫy núi tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây Trung Hoa ( Thập vạn đại sơn) qua vùng Móng Cái, Quảng Yên phân ra một giải Đông triều về mé biển, một giải qua xuống Lục Nam đi đến Sùng Nghiêm, Kiếp Bạc giáp Lục đầu giang.

Khi tôi mới xem ở khu đầu ngoài, thấy có chỗ kết đại huyệt và nhiều kiểu quý huyệt lấy làm mừng; sau đi sâu vào bên trong, để xem nguyên lai, thì mới biết là đã bị cắt đứt mất cuống mạch rồi! Có chỗ đào xẻ sâu xuống, chứng bốn, năm mươi thước, chiều ngang chừng hai, ba mươi thước, chiều dài có chỗ ba, bốn năm trăm thước; công trình tổn phí có thể hơn người Pháp xẻ núi làm đường xe lửa, ở các đèo núi cao! Ai trông thấy cũng phải tiếc và không khỏi thán hận! đáng trách con người thâm độc của nước Trung Hoa!

Ngày nay, muốn đi xem, nếu lên núi không thể được, thì có cách hay hơn Cao Biền ngày xưa, là dùng phi cơ trực thăng thì tiện nhất!

B. – Chi Long thì phần nhiều là đê tiểu bạc nhược, không hùng cường như cán long, thể độ thì đa số là khởi phục bác hoán, đa sinh phong loan ( biến hóa ra nhiều tinh phong vòng cong), phân ra chi nhánh sơn sa hai bên tả, hữu và hay thiên thẹo lệch lạc. Hình thế thì phần nhiều là ngắn hẹp và triều bão vào cán long làm tùy tòng. Chỗ xuất mạch ( mạch đi ra) thì không lộ rõ, hình như là lén lút ẩn tích; những tinh phong thì thấp nhỏ, đa số là tiểu đôi và tiểu phụ ( gò đống thấp nhỏ) hành độ thì giắt díu, dây dưa, cong queo, kết cục thì nhỏ hẹp, hay thiên về một bên, ít cân đối. Đại khái Chi long là thế.

Nếu như chi trung cán, hay cán trung chi, thì tự lập riêng một thế cục, dầu nhỏ, dầu lớn cũng không dựa thế nào cán long, tức là “ tự kỷ thành gia”, “ biết lập tiểu giang sơn” ( ví như người: riêng mình tự một khu vực, không ỷ lại khuất phục người nào). Các tinh phong sơn sa hai bên long hổ triều bão, cũng như cán long không khác, chỉ phân biệt nhau là đại cục thế với tiểu cục thế. Tức là đại cán thì đại tụ, tiểu cán thì tiểu tụ; đại chí thì cũng tiểu tụ, tiểu chi cũng có tụ nhưng tụ chút ít. Tuy tụ nhiều, tụ ít khác nhau, nhưng tình ý cũng đều như nhau cả.

Cũng có chỗ “ Thư Hùng lưỡng chi tịnh xuất” ( hai chi cùng đi song song ra) thì chi Hùng ( đực, mạnh) là chủ, chi Thư ( cái, yếu) là tùy, thì kết huyệt ở chi chủ (Hùng) thường thường là quý hơn.
Nếu hai chi tương đương, không phân biệt Thư, Hùng thì cả hai đều cùng kết huyệt. Chỉ phân biệt quý, tiện; ở chỗ có cách và không có cách thôi.
Kết huyệt thì rất nhiều dạng vẻ khác nhau, không thể kể xiết, chỉ kể đại khái như là “ Lão cán sinh nộn chi” ( cành già biến ra nhánh non) thì huyệt kết ở nộn chi ( cành non); hoặc trước thấp sau thấp, tiết giữa cao lên, xét xem tinh diện ( mở mặt) hướng về bên tả thì huyệt ở bên tả, mặt hướng về bên hữu thì tìm ở bên hữu. Nếu khoảng giữa không phân khai, cón đương đi, thì huyệt ở đoạn sau, hay đoạn cuối; nếu cuối cùng ( tận đầu) mà sơn phi, thủy tẩu thì tức là không tụ, không có huyệt và huyệt kết ở đoạn giữa; nếu thấy chỗ nào sơn thủy tụ hội, loan hoàn cung bão ( vòng cong ôm vào), hình thế kín đáo tôn nghiêm, là chỗ ấy có huyệt quý, hoặc âm thịnh dương suy, thì huyệt ở chỗ âm, dương thịnh âm suy, khi huyệt ở chỗ dương v.v…

Còn như long mạch ở miền bình dương ( đồng bằng) thì phần nhiều là di tông thất tích ( mất dấu tích cuống mạch) không biết ở đâu ra. Những chỗ ấy thì phải xem nước ở hai bên giáp long, chảy về phương nào, thì mới định được long lai, nếu không thì là đứt ngang đâu mất rồi khó mà suy lượng ra. Ở vùng bình dương có chỗ mạch đi chỉ hơi gợn lên một chút ít, đến tận nơi mới tấy, chứ ở xa mấy trăm thước thì không biết có mạch, nên gọi là “ Thảo xà, hôi tuyến chi mạch” ( con rắn luồn trong bãi cỏ, sợi dây tro tàn). Những tinh thể chỉ đột lên thấp nhỏ như là hình Lư tiên, Ngọc xích v.v… ( xem đồ hình sẽ rõ) như có, như không,khiến phải nghi hoặc? Vậy phải tế nhận ở chỗ chuyển mạch xuyên điền, truyền giác, hình như giây nọ dắt dây kia, như là bóng dáng nối đuôi, theo hút thôi. Hễ thấy có đột khởi tinh phong ( gò đống) là có mạch, bất luận lớn nhỏ, dài ngắn hễ đường bình thản ( bằng phẳng) mà có chỗ đột cao lên, là chỗ ấy hay có huyệt, nên có câu: “ bình trung nhất đột, tối vi kỳ” là nghĩa đó.

Hoặc ở giữa hồ ao, đầm vũng mà có gò đống nổi lên, và thể chất kiên cố ( bền nguyên thổ) là khí mạch rất tốt. Hoặc bên cạnh chỗ nước mà có huyệt đá ( bãi đá liền với đất) cũng có huyệt hay, nhưng ít người biết, nên có câu: “Thạch huyệt bàng tủy nhân mạc thức, cánh hữu chản nội phù du lạc”. Nghĩa là: “ Huyệt đá ở bên cạnh nước, người không biết, nhưng có báo hiệu là như có cái màng váng nổi trong cái chén nước”.

Trên đây là kể đại khái thể thức Chi long, cán long hành độ; còn về hình thể tinh phong, như là Ngũ tinh, Cửu tinh, phải thuộc hiểu để biết sinh, khắc mà tác dụng mới được.

Trong bộ kinh Tiết thiên cơ, chỉ lấy tám (8) cái là: Sinh, Tử, Cường, Nhược,Thuận, Nghịch, Tiến, Thoái, để phân tách long hay, long dở. Nghĩa là: Sinh thì long sơn nghểnh đầu, nhiều đốt đoạn, nhiều bác hoán; Tử thì long không khởi phục, nằm đườn ra; Cường là đi mạnh mẽ dài rộng; Nhược là trông long gầy guộc, khô khan, yếu ớt; Thuận là long đi thẳng về phía trước mặt; Nghịch là đương đi, quay mặt trở lại phía sau lưng; Tiến là long mỗi tiết lại cao lên, Thoái là long lui dần rồi tan ( hết) huyệt.

Có hai câu phú: “ Sinh, Cường, Thuận, Tiến giai vi hảo; phú quý kiêm thọ khảo”, “Tử, Nhược, Nghịch, Thoái tối vi hung, yểu triết thụ bần cùng”. Nghĩa là: bốn cái Sinh, Cường, Thuận, Tiến là long tốt, sinh ra người giàu sang và sống lâu. Bốn cái Tử, Nhược, Nghịch, Thoái là long rất xấu, sinh ra người nghèo hèn và chết non.
Như vậy thì kinh Tiết thiên cơ luận long, còn nông cạn, chưa đủ. Theo đúng long pháp, thì phải xem xét cán long, chi long, để phân biệt đại địa, tiểu địa; lấy tinh thần ( tinh thể) mà định cát, hung.
Vậy chỉ có Nghi long, Hám long, Vọng long, bà (3) kinh này mới hiểu thấu tính tình sơn thủy, thực đúng phép kết tác của Thiên địa tạo thiết là chí chân, chí lý! Thời sư phải theo đủ các phép kể trên mà định long hay, dở, chứ không thể đơn giản được.

Quá giáp, xuyên điền
Quá giáp, Xuyên điền là cái thể độ bác hoán của hành long, tức là chỗ eo long sơn nọ, nối với long sơn kia, như chỗ phong yêu ( lưng ong).

Long mạch to hay nhỏ, quý tiện; huyệt kết chính hay trắc, thuận hay nghịch, cao hay thấp, đều hiện hình ra ở chỗ Quá giáp; nên phải theo Địa lý phép, mà phân biệt rõ. Hai cái Quá giáp, Xuyên điền đều là chỗ hành long bác hoán, nhưng Quán điền ( Xuyên điền) thuộc Dương khí, Quá giáp thuộc âm khí, mà Dương khí thì cần khoan thư, vậy Quán điền nên bình thản, dài rộng, khoan thư, mà Quán điền thường chỉ một bên có hộ sa, một bên không khuyết nhưng không ngại phong suy ( gió thổi). Chỉ có đại cán long hoặc chân quý long mới hay có như thế; có lẽ sơn là Âm thế, mà kiêm Dương khí hành long nên tốt. Còn Âm khí cần phải thu tụ, vậy Quá giáp nên ngắn và gần; cả hai bên cần phải có hộ sa giáp khẩn, để khỏi bị phong suy, bất luận cán long hay chi long, đều phải có như thế mới tốt.

Nếu long không Quá giáp, thì không bác hoán. Mà đại long Quá giáp thì tất nhiên khai trương đại trướng, đại nghinh, đại tống. Hai bên chỗ Quá giáp, có những tinh phong tủng tú ( cao đẹp) che kín gió thổi. Dầu ở trước hay sau, đều là quý địa. Nếu đằng trước còn đi dài nữa, kết huyệt tất nhiên là đại quý địa không sai!

Nếu trông thì đại thế, mà long sơn chỉ dài và hẹp, không khai trướng, sơn sa, hộ tống đơn bạc, cho Quá giáp khoáng khuyết ( không có núi đồi che gió) thì bị sát khí, dần dần tiêu tan, thì không có quý địa.
Xét xem chỗ Quá giáp thấy lai sơn đại (núi dẫn mạch lại to), khứ sơn tiểu (cái núi dần đi nhỏ) thì kết huyệt ở gần. Cái lại nhỏ, cái đi lớn, thì huyệt kết còn ở xa.
Nhận xem Quá giáp, nếu là dương tức là Quán điền ( qua đồng, ruộng, thấp hơn) mà trong chỗ bình thản ( bằng phẳng), có những gò đống, hình như thù ty, ma tích. Nếu là âm, tức là cao hơn và khân tế ( nhỏ gần). Mà ở chỗ nhỏ ấy có hình như phong yêu, hạc tất. Chính là những “ thanh tú chi khí” phát hiện, tất nhiên có quý huyệt! Nếu không có gì khác hiện, thì chỉ là làm thương chi khí thôi!
Xem chỗ Quá giáp cao, thì huyệt kết ở thấp. Quá giáp thấp thì huyệt ở cao.
Quá giáp chính thì huyệt tất chính. Quá giáp trắc ( cạnh nghiêng) thì huyệt tất thị trắc.
Nếu một bên Quá mà quay đầu trở lại, tức là “ hồi long có tổ chi huyệt”. Xem mấy minh họa đại lược dưới đây:



Cục pháp
Cục là sơn thủy tụ hội lại một khu, cấu kết thành cục diện gọi là cục. Tức là Thư, Hùng giao hợp ( sơn, thủy là thư, hùng). Từ chỗ Long sơn phát nguyên lìa tổ sơn ra đi, là ở hai bên sát cạnh phải có hai rạch nước đi theo. Sơn đi đến đâu, thì thủy đi đến đấy. Chữ là: “ Sơn hành tắc thủy tòng”, dầu đi xa hay gần rồi sơn, thủy vẫn phải tụ lại, hợp lại làm bạn với nhau, như “thư hùng giao cấu”thành thai ( kết huyệt).
Tất nhiên là Long tả toàn, thì thủy hữu toàn. Long hữu toàn thì thủy tả toàn.
Nghĩa là: Long ở bên tả lại, thì Thủy ở bên hữu đến Long ở bên hữu đến thì Thủy ở bên tả lại, hai bên Sơn, Thủy gặp nhau thì mới kết huyệt. Nếu hai cái sơn, thủy đều quay đi tức là Sơn phi, Thủy tẩu thì không kết huyệt.
Cục pháp có bốn cách là: Thuận cục, Tà cục, Hoành cục và Hồi cục.
- Thuận cục là long đi thẳng lại huyệt.
- Tả cục là long ghé chếch sang một bên.
- Hoành cục là long quay ngang hẳn về một bên.
- Hồi cục là long quay ngang rồi chuyển hướng, nghịch trở lại về tổ sơn, tức là “ hồi long có tổ”.
a. – Thuận cục thì hướng trông khoảng giữa hai bên long hổ, thủy tụ hợp, rồi theo thuận hướng chi huyền chảy đi ( nước đi ngoắt ngoéo như hình chữ chi, chữ huyền gọi là thủy chi huyền).
b. – Tả cục thì không hướng vào giữa như Thuận cục, hoặc ghé gác sang tả sa, hoặc ghé gác bên hữu sa, chỉ có một rạch nước qua minh đường rồi hợp với rạch nước bên kia, ở phía cạnh chảy đi.
c. – Hoành cục thì hướng ngang hẳn về một bên hoặc long sa, hoặc hổ sa, cũng chỉ có một rạch nước qua minh đường thôi, hai rạch nước hợp nhau ở phía dưới bên cạnh chảy đi.
d. – Hồi cục thì long thân quay ngược trở lên đối diện với tổ sơn, cũng chỉ thu có một bên nước theo long thân chảy lại, tức là “nghịch thủy triều đường”, rồi hoàn bão về sau lưng huyệt hợp với rạch nước bên kia chảy đi.
Vậy thì, chỉ có đại cán long mới hay thu được cả hai rạch nước và kết được Thuận cục thôi, còn đại chi long, chi trung cán, chi trung chi long, thì thường thường là thu được có một bên nước và không kết được Thuận cục, chỉ là kết Tả, Hoành, Hồi ba (3) cục thôi. Tất nhiên là không bằng Thuận cục thu hợp được cả hai bên nước, tức là đại địa.
- Hành độ của đại cán long, thì thể ngạnh ( ngạnh là không khởi phục, không đột khởi tinh phong) đi thì cũng có chỗ hay triết (triết là gãy khúc) như là long mạch ở đằng bắc đi về đằng Nam, nhưng một đưa về Tây, rồi một đoạn đưa về Đông, như cái thước thấp, không kéo thẳng, chữ gọi là: chi Huyền. Sa, thì hay tề ( tề là hai bên tả, hữu sa đều đi đến, như bày đặt đăng đối). Thủy thì xuất ( xuất là cả hai bên nước cùng chảy ra trước mặt hợp lưu rồi chày đi). Cục thì ( thuận là thu cả hai giải nước theo long, cũng đi thuận một chiều ra rồi hợp ở trước mặt.)
- Hành độ của đại chi long, thì thể cường ( cường là đại khởi, đại phúc, hay khởi hục mạnh), đi thì trắc ( trắc là mặt hướng nghiêng về một bên, Sa thì hay cái (cái là che, ngăn nước theo chảy thuận xuống, khỏi chảy tán mạn), Thủy thì triều ( triều là chi huyền, chảy ngoắt ngoéo như hình chữ chi, chữ huyền), cục thì hay nghịch (nghịch là quay ngược trở lại, thu được một bên đại thủy.)
- Chi trung cán là cái cán của các chi nhỏ, thuộc trong chi lớn, long này hành độ thì thể động ( động là khởi phục nhiều) và hay chính ( chính là ngay thẳng mặt về đằng trước), Sa thì hoặc cái hoặc thu ( cái là sa ở trên đằng sau, che qua huyệt; thu là sa ở dưới, đằng trước huyệt, quay ngược lại hạn thu nước ở trên chảy xuống), Thủy thì hay bão ( bão là vòng trước huyệt, như cái đai thắt vào mình) Cục thì hay hoành ( hoành là quay ngang mặt, thu một bên nước qua minh đường).
- Chi trung chi, hành độ thì thể nhược ( nhược là không đột khởi tinh phong, họa là mới khởi phục ít thôi), đi thì tà ( tà là chếch nghiêng về một bên), Sa thì cũng hay phối ( phối là được một bên sa đối diện), Thủy thì đoản ( đoản là chỉ thu được một đoạn ngắn tiểu thủy thôi), Cục thì hay tạp ( tạp là hoặc hoành, hoặc hồi, hoặc thuận).
Trên đây là kể đại khái những tính tinh kết tác của sơn thủy là như thế. Nên có câu: “ Hữu thị long tắc hữu thị cục; hữu thị cục tắc hữu thị long”. Tuy sơn xuyên biến hóa cũng như mặt người, không ai giống ai, nhưng cách cấu tạo cũng vẫn thế, không thể vượt qua được. Vậy tướng địa sư tự suy xét, thấy long là biết cục, thấy cục là hiểu long, không khó gì cả. (Xem đồ họa cục thế sẽ rõ).

Thượng sa, hạ sa
Sa là để ủng hộ long thân và bảo vệ khu huyệt, bố trí cục thế.
Long mà không có sa hộ, thì cô đơn; huyệt mà không có sa hộ thì không khoáng; cục mà không có sa hộ thì phiêu tán, lấy gì làm bố trí v.v…Tiếng sa là gọi chung, kể phân tách ra thì có nhiều thứ như là: thượng sa, hạ sa, tả sa, hữu sa, hậu sa, tiền sa, nội sa, ngoại sa v.v…Nhưng có hai cái thượng sa và hạ sa, là tối khẩn hơn.

A. – Thượng sa là cái sa đi theo hộ vệ chính long, từ chỗ mới phân xuất để hãm thủy ( ve nước) hai bên từ trên chảy thuận ( xuôi xuống, bố trí cục thế, ủng hộ huyệt trường). Sa này cần nhất là mở được rộng, buông được dài và triều bão làm thành quách bao vây đại thể bên ngoài, yểm hộ sinh khí bên trong.

B. – Hạ sa là cái sa ở phía dưới, về trước mặt để thu nạp được bản thân chi thủy ( nước tự gốc,theo long thân đi ra) và ngăn cản ngoại thủy ( khách thủy khỏi nhập nội đường). Nghĩa là, ngăn cái nghịch thủy ở ngoài xa, không cho chảy xung vào mình đường bên trong, trước huyệt. Sa này cũng cần hồi hoàn loan bão ( cong ôm về huyệt) và hãn thủy đình tụ lại, khỏi tán mạn ( chảy buột đi).

Trong hai sa này thì Thượng sa cần thiết hơn, xem thượng sa có thể suy xét, quyết đoán được huyệt khí quý hay tiện. Thượng sa mà trùng trùng điệp điệp ( nhiều lần bão lại) là huyệt khí quý; nếu đơn bạc (ít lần ôm lại) là huyệt khí tiện.

Sơn với Thủy cũng như phu phụ ( vợ chồng), hễ sơn thấy thủy đều là phải thu hút, không kể gì quý hay tiện, chỉ cốt sao có thủy dễ dưỡng long hộ khí thôi. Còn như khí quý thì ở cục thế khai trương tức là thượng sa dài rộng, nhiều lần vây bọc, cục thế rộng lớn bao la trái lại thượng sa đơn bạc ( có một lần mỏng manh) thì thủy bức thành cước, là thủy xung long, cắt chân huyệt sơn, gọi là “ Cát cước chi thủy” hay là “ Cát cước chi long” cũng vậy. Như thế thì không tốt lắm, bởi vì giảm mất khí quý là tiện.

Vậy thượng sa cần được dài rộng, ôm qua trước huyệt ngăn cản khách thủy (nước ở ngoài xa nghịch lại) không chảy xung vào minh đường, thì nội khí hoàn cốt (trong cục, khí tụ được nguyên vẹn, bền tĩnh không bị phiêu tán).
Vậy những quý long thường không thu khách thủy, chỉ thu “ tự kỷ thủy”, nước ở bản thân long thân.
Còn cái khách thủy là nước của long sơn khác đã xài thừa rồi chảy qua, không nên cho nhập nội đường ( vào trước huyệt). Triết gia nói: như: “ Quý nhân bất thực, tha nhân chi tàn thực”; nghĩa là: Những khách sang không chịu ăn đồ thừa của người khác!

Nên, hạ sa chỉ cần một phiến nghịch chuyển là được, bất luận to hay nhỏ; dài hay ngắn, cũng thành quý huyệt. Các triết gia đều công nhận rằng: những đại địa phần nhiều là “ thượng sa tác án”; hạ sa chỉ cần một phiến nghịch chuyển thôi, nếu có nhiều cũng cho là dư sa ( coi như thừa).
Phần nhiều những thời sư thấy hạ sa phi tẩu, thuận thủy phiêu lưu cho là xấu; có biết đâu như thế là quý cách của quý địa chứ phú địa không hay có cách như thế.
Nhà tiền triết Dương Quân Tùng: “ Hạ sa hoặn như kiếm; thuận thủy tà lưu phi nhiễm nhiễm , thời sư đáo thử, đoán ly hương; bất tri nội hữu chân long chiếm; tuy nhiên hữu thử huyệt bất kiến”.
Bộ sách Lý gia hoạt sáo: “ Sa bất phi dương, quan bất bái tướng”.
Nghĩa là: Ở tận cuối cùng hạ sa hình như mũi dao, mũi gươm buông theo chiều nước chảy xuôi đi, trông như giáng bay tuồn tuột, các thày đến, thấy vậy, bảo là kiểu đất có người phải bỏ làng ! Chứ có biết đâu là ở trong đó đã có chân long chiếm giữ rồi, tuy phóng đi nhưng mà ở huyệt không trông thấy.
Nghĩa của câu Lý gia hoạt sáo: Sơn sa mà không dương ra như buông bay đi, thì làm quan không lên đến chức vị Tể tướng, ( tức Thủ tướng).
Hai câu chữ tuy khác, nhưng ý nghĩa vẫn như nhau, nhận xét ra thì cũng đúng. Không ra ngoài thì làm quan thế nào được, càng làm to thì càng phải ly hương xa, chứ đâu phải bỏ làng như kẻ bần cùng?
Ngẫm ra thì hết cả các long, bất luận chấn long hay chi long, đã kết huyệt thì không chịu thu khách thủy, vì mỗi giải sơn di đến đâu thì đã có hai, hay một giải nước đi cùng, nước ấy triều phối với long mạch ấy, tức là thấm nhuần với nhau rồi, không cần khách thủy nữa, tất nhiên “ Thư, Hùng tương thực, tẫn mẫu tương giao” không hợp với khách thủy nũa cũng đủ.
Như đại long kết huyệt, tự hữu đại sa ngăn cách khách thủy không xung nhập nội cục, chỉ triều tụ triền nhiễu ở ngoài thành thôi, còn như chi long, thường không buông dài ra được, đến chỗ kết huyệt thường hay quay ngang, hay là quay ngược trở lại, kết tác với nội thủy, tất thị không hướng vào khách thủy. Chỉ có nô sa kết huyệt; thì phần đa số là không có tùy thủy, chỉ hướng vào khách thủy, thì cũng như người gác kho cho nhà giàu, vậy đó là tiểu địa.

Tả sa, hữu sa
Tả sa là những sa ở bên trái của huyệt tinh, gọi là Thanh long sa.
Hữu sa là những giải sa ở bên tay phải ( mặt) của huyệt tinh gọi là Bạch hổ sa.
Hai sa này là hai sa hộ vệ huyệt trường, bố trí cục địa, cần phải loan hoàn củng bão ( vòng ôm, về phí huyệt) mềm , dẻo thì tốt, nếu thô ngạnh thì xấu, không nên triết yêu ( gẫy lưng) không nên khuy khuyết không khoáng, nếu thiếu hoặc đứt, cách quãng thì phong suy xạ huyệt ( gió thổi bắn vào huyệt) thì khí tán, kỵ ngang đầu ( là đầu sa ngóc lên, tức là khinh khi chủ huyệt) tối kỵ phản bội ( là đầu, lưng quay đi, tức bất phục chủ) thì không phải là huyệt.

Hai sa này thường không đều nhau, bên ngắn bên dài, nhưng long trường ( dài), hổ đoản ( ngắn) thì hợp phép của địa lý, tức là tốt. Chỗ thì bên có, bên không; chỗ thì cả hai bên giao nhau, ôm qua trước huyệt gọi là duy hội ( ràng rịt). Có chỗ thì chủ tinh không có sa, mà phụ mẫu sơn phân sa ra ôm huyệt tinh, làm tay long, tay hổ; có chỗ thì bản thân long, không có tay long, tay hổ mà mượn khách sơn ( sơn sa ở ngoài) chầu lại làm long, hổ; có chỗ một bên là bản thân sa, một bên phải mượn khách sa ( ở ngoài) lại thấu hợp, mỗi chỗ một khác chứ không mấy chỗ giống nhau. Vậy chớ nên câu nệ, chỉ cốt lai triều hoàn bão, kết thành cục chu mật là khí tụ, tự nhiên kết huyệt được, bất tất phải có đủ mới có huyệt.

Giáp sa
Giáp sa là cái sơn sa ở ngoài tay long, tay hổ của huyệt tinh, “đĩnh khởi đặc tú chi sơn” ( núi cao đẹp, ngoạn mục), bão củng giáp chủ tinh ( huyệt) gọi là “ giáp nhĩ sơn” ( núi giáp tai). Nếu đột khởi trên long thân ở hai bên thì gọi là Thái ất, Thiên ất, là “ đặc quý chi sa” ( quý đặc biệt phi quý long, quý huyệt, thì không có như vậy).


Mời xem các phần khác:



  1. Bảo Ngọc Thư - Lời giới thiệu

  2. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Tam thập nhất cách

  3. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Quyết đoán địa cách

  4. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tam thập lục thủy kiềm

  5. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Phụ lục: Ngọc Tủy Kinh - Bình Dương

  6. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Hữu đệ nhất cách

  7. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu đệ thất cách

  8. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu thập thất cách

  9. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu nhị thập nhị cách

  10. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Cáo Bạch

  11. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Địa lý phong thủy

  12. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Long mạch của Việt Nam

  13. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Viên cục

  14. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Ứng tinh, Biến tinh, Gián tinh

  15. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Quan, Quỷ, Cầm, Diệu

  16. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Đại khái hình đồ

  17. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Biện hổ thạch

  18. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Long Tổ

  19. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Bình Dương pháp tầm long

  20. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tọa Khôn, hướng Mão

  21. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tư Mã Đầu và Dạt Tăng vấn, đáp

Bài viết cùng chuyên mục

Cửa gỗ được thiết kế đúng cách còn giúp mang lại sự thịnh vượng, may mắn và sức khỏe cho gia chủ.

Việc thăng quan tiến chức phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố về năng lực, về trình độ về phong thủy chỗ làm việc.

Cửa phòng chẳng những là con đường ra vào phòng ngủ mà còn là nơi thông dẫn khí vào phòng.

Phòng cưới là nơi một đôi vợ chồng trẻ bắt đầu cuộc sống mới. Vì thế việc trang trí phòng cưới cần được tính toán kỹ lưỡng để có được khởi đầu hôn nhân tốt lành.

Trên thực tế không phải bất cứ loại cây nào cũng có thể trưng bày trong nhà. Có những loại cây mang đến cho gia đình bạn nguồn sinh khí tốt lành, may mắn, nhưng lại có một số loại cây không hề tốt...

Phong thủy nhà ở có tác động lớn đến cuộc sống, hạnh phúc và thịnh vượng của bạn và gia đình.

Phong thủy nhà ở tốt hay xấu không chỉ ảnh hưởng đến vận may của các thành viên trong gia đình mà thậm chí còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính cách của con trẻ.

Bạn có thể dễ dàng luận ứng dụng của màu sắc hợp khắc với mình để sử dụng trong sơn phết nhà cửa, cũng như phối hợp quần áo, đồ đạc trong cuộc sống hàng ngày.

Mỗi loại cây, hoa đều có ý nghĩa riêng về mặt phong thủy. Việc sắp đặt cây cảnh trong phòng ngủ có ảnh hưởng trực tiếp đến vận khí của chủ nhà.

Xưa nay, việc trồng cây xanh luôn được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường sinh khí cho nhà ở. Cỏ cây tươi tốt biểu hiện cho sinh khí thịnh vượng dồi dào.