Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu nhị thập nhị cách

Ngày đăng: 21/04/2008 00:00:00




Hữu nhị thập nhị cách
"
Trùng âm thử cách bất lao khan
Huyền vũ cao cao cấp cấp sơn
Nhược ngộ táng chi đa bại tuyệt
Gia tài bất tất vọng tài quan."
Chú vân: Trùng âm giả; Vị chi hậu đầu sơn nhất tiết cao nhất tiết, tắc thủy thượng cao, huyệt hậu hoặc tam tiết chí thập tiết, giai tằng tằng đột khởi, vô bác hoán đốn khởi, vị chi trùng âm, như thử cách bất khả táng dã! Nhược ngộ táng chi, đa sinh tử tuyệt, đới chi! Thận chi!

Thi vân:
"
Địa hình tuyệt tự thiểu nhân tri
Bắc lộ tây trì định bất nghi!
Long đê phản ngoại nam vô tự!
Hổ đoạn phi tha, nữ bất nhi!"

Giải nghĩa:


Cách thứ hai mươi hai
"
Thấy cách trùng âm chớ nên tìm,
Sau cao từng cấp uổng công xem.
Táng vào huyệt ấy tiêu vong mạng,
Hổ bão Long loan cũng chẳng thèm."

Lời chú: Trùng âm là: Ở đằng sau hạ đầu cứ mỗi đốt lại cao lên một đốt, từ 3 đến 10 cấp đột khởi thành nhiều tầng, là cách trùng âm, không thể táng huyệt được. Nếu gặp đất này mà táng huyệt sẽ bị tuyệt diệt. phải cẩn thận , chớ coi thường.



Thơ rằng:
"
Đất hình huyệt tự ít người hay,
Đường bắc, hồ tây bởi cách này.
Long thấp hướng ngoài, trai tuyệt tự,
Hồ sa bay, đứt, gái thương thay."


Hữu nhị thập tam cách
"
Trùng dương thử địa bất khả vi
Hậu sơn nhất cấp hựu nhất đê
Nhược ngộ táng chi đa bất lợi
Thời sư mạc nãi tác tâm cơ."


Chú vân: Trùng dương giả: Vị chi hậu đầu sơn nhất tiết đê nhất tiết, thủy tự huyệt nội bạt khứ hậu đầu, vị chi thủy phá đầu nhi khứ thử vi ngưỡng ngõa chi cách dã, tự huyệt chí hậu đầu tam tiết chí thập tiết, giai đê chi, nhi bất khởi, vị chi trùng dương chi cách dã, nhược ngộ táng chi chung đa bất lợi dã. Thủy khẩu nhất trùng đê nhất trùng, bất sinh kỳ thạch, thị bần cùng, túng nhiêu nữ muội, nhi tu bại, nhất đại phong quang tiện kiến hung.




Giải nghĩa:


Cách thứ hai mươi ba
"
Gặp cách Trùng dương chớ có làm
Sau đầu, từng cấp chẳng nên ham.
Khuyên rằng đừng tiếc sa loan bão,
Táng xuống toàn gia họa bất kham."



Lời chú: Thế nào là cách Trùng Dương?
- Hậu đầu có núi cứ từng cấp xuống thấp dần, nếu táng mộ tại đây sẽ bị “ Thủy phá hậu đầu” giống mái ngói ngửa rốc vậy. Từ chỗ Huyệt tới sau đầu nếu có từ 3 đến 10 cấp đều thấp là đúng cách Trùng dương, nếu táng huyệt sẽ gặp nhiều bất lợi.


Thơ rằng:
"
Thủy Khẩu nhất trùng, thập nhất trùng,
Chẳng sinh thạch lạ ắt bần cùng.
Táng vào nhất định gia đinh bại,
May được một đời sẽ lại hung."

Hữu nhị thập tứ cách
"
Trực lai, trực thụ thế vi nan!
Đấu mạch táng chi, thị bất an!
Thử địa trùng tang sinh bách bệnh!
Thời sư thức phủ nhỡn lao khan!"


Chú vân: Mạch tự huyền vũ thô trực nhi lai, vô khởi vô phục, vô bác hoán nhi nhập huyệt giả, cố viết trực lai, thực thụ dã, như Kiền Hợi long lai sổ tiết chí huyệt hựu tọa Tốn Tỵ hướng vị chi đấu mạch sát khí, bất khả táng dã. Cố viết mai hoa, song kim nhị sát, bất khả phạm dã, nhược mổ long lai, hướng mổ cán chi giai khả kỵ chi.

Thi vân:
"
Thủy khuyết môn tiền hạ thạch giang
Bệnh phùng hạ lỵ tử khê bàng!
Sơn cao áp diện sinh hôn mục!
Thủy tiết biên thân tẩu dị hương!
Bắc khuyết phong suy đa bệnh khổ!
Nam phương hỏa tử hữu tai ương!
Nhược đắc thử môn như hữu thử
Tử tôn hà hoạn hữu ôn hoàng!"

Giải nghĩa:


Cách thứ hai mươi bốn
"
Trực lai, trực thụ, chớ nên bàn,
“ Đấu mạch”, táng vô ắt chẳng an.
Tên gọi TRÙNG TANG sinh lắm bịnh,
Thời sư kém mắt chớ lo toan."



Lời chú: Mạch tự Huyền vũ lại thẳng, không khởi, không phục, không biến đổi, cứ thô đại nhập huyệt: Đó là cách “ TRỰC LAI, TRỰC THỤ”. Thí dụ như Long lại từ phương Kiền, Hợi được chừng vài đốt; mà huyệt lại ở phương Tốn, Tỵ, thì gọi là Đấu mạch, bị sát khí, chẳng thế táng huyệt được. Nên mới có câu: “ Mai hoa song kim nhị sát”, chớ có phạm vào; mỗi long lại có 1 phương kỵ, vậy nên phải cẩn thận.

Thơ rằng:
"
Thủy khuyết môn tiền dưới thạch giang,
Sinh người bệnh hoạn chết bên đường.
Núi cao áp mặt, sinh mù mắt,
Thủy chảy bên thân, chạy bỏ làng.
Gió Bắc thổi lùa, nhiều bệnh khổ,
Lửa nam bốc cháy lắm tai ương.
Nếu thấy cách này mà táng phóng,
Cháu con phải chịu họa ôn hoàng."



Hữu nhị thập ngũ cách
"Bất phân long hổ sự nan khan!
Thử địa thô tề hữu nhị ban
Nhược ngộ táng chi tai họa chi!
Bất tu chước mục uổng lao khan!"


Chú vân: Chủ sơn dữ huyệt tinh long hổ tương tề, vô phần cao hạ, gián đoạn, đồng nhất đẳng dã, vị chi long hổ dữ chủ sơn tề tráng, bất phân cách cục, như bất minh, thử pháp nhi ngộ lao quan, táng đa bại tán! Thử cách tắc đới chi, như tâm mạch ( tâm tinh tức mão) lai giáp tự, nam đới phong tật! Nhập tốn tự nữ hữu phong tất!


Thi vân:
"
Thủy bức tiền môn bất khả khan
Đãn hiềm ngũ bát tuế nhi hoàn!
Long trường hổ đoản nam thương túc!
Hổ xúc long cao nữ triết oan!
Tử vô tùy phụ nan thành phẩm
Phụ bất tòng phu tất dã quan!
Hữu địa nhược quan, y thị thử
Tiên sinh hà tất chuyển la bàn!"
Giải nghĩa:

Cách thứ hai mươi lăm
"
Không phân Long Hổ chẳng nên bàn,
Cách ấy thô hung huyệt bất an.
Nếu gặp, táng vào, tai họa đến,
Khuyên đừng ngó tới, uổng tâm can."



Lời chú: Huyệt tinh và Long, Hổ đều bằng nhau, không phân cao thấp, được gọi là cách “ LONG HỔ và CHỦ SƠN CÙNG MẠNH” không phân thành cách, cục thì cũng ví như bất minh. Nếu gặp cách này mà cứ táng thì gia đình sẽ bị bại tán. Như mạch lại từ Mão cung, cung đến đúng vào chữ Giáp trên địa bàn thì người con trai sẽ phải mang chứng bịnh phong, nếu vào chữ Tốn thì con gái sẽ bị phong tật.


Thơ rằng:
"
Thủy bức môn tiền đất chẳng hay,
Thiếu niên chết uổng đáng thương thay.
Hổ dài, Long cụt: trai què cẳng,
Hữu thấp, tả cao: gái gẫy tay.
Vợ chẳng theo chồng, vì cách ấy,
Con không nghe bố, bởi Long này.
Đất nào mà thế đừng xem nữa,
Thày để cho người họa đến ngay."


Hữu nhị thập lục cách
"
Đoạn long chi thủ bất kham thiên!
Tuy hữu chân hình bất khả ngôn!
Đoạn mạch thổ tiêu nhân thụ sát!
Quỷ sơn sát mạch địa nan toàn!"


Chú vân: Long lai nhập huyệt, hoặc bị nhân dân quật hãm, hoặc bị hồng thủy phá băng, đoạn thử long chi hậu dã, tuy hữu quý long huyệt, giai bất khả táng dã, cẩu hữu, táng chi, phát nhi bất trường cửu, đới chi! Thận chi!


Thi vân:
"
Tứ vi hữu lộ tẩu như xả
Thế tự tù đồ ngục tất gia!
Ngũ quỹ vũ sương binh trận tử!
Nhập lưu cấp án tọa sinh ba
Thế gian dục tỵ đồ tù sự
Kỳ thủy đường tiền bất diệu hà
Tứ vi hữu lộ như tỉnh tự"
Danh viết thiên ngục, chủ phi tai, hình ngục dã, tứ phương tiêm phạm chủ đao binh trận tử vong, thủ dĩ bát tự bị ngục trung nhi tử.

Giải nghĩa:


Cách thứ hai mươi sáu
"
Đứt Long, Đứt Hổ chớ nên trông,
Dầu có hình hay cũng chẳng dùng
Đoạn mạch thô tan người bị sát,
Sau đầu trực đấu học vô cùng."



Lời chú: Long nhập huyệt mà bị dân chúng khai quật, hoặc bị nước lớn phá băng ở hậu long, tuy là quý long cũng chẳng nên táng, bởi không được trường cửu phải cẩn thận.


Thơ rằng:
"
Bốn mặt đường đi tựa rắn vây,
Hình như ngục thất bị tù đày.
Sau đầu súng chĩa, vòng ngoại trận,
Trước mắt thủy xâm, chết mất thấy.
Muốn tránh ngục tù cần nhận kỹ,
Hình như chữ Tỉnh huyệt đâu hay.
Dở hay bởi đất sinh ra cả,
Đặt táng xong là ứng nghiệm ngay."

Nếu thấy bốn bên đường chạy dọc, ngang, như chữ TỈNH thì là đất sinh tai họa hình ngục, nếu bốn bên thấy ngọn nhọn đâm vào huyệt sẽ chết trận, trước sau có thủy phân hình chữ Bát, chảy đi là bị tù và chết ở trong ngục.


Hữu nhị thập thất cách
"
Khuyến quân tuyệt huyệt bất lao hạ
Tất sử nhân đinh bất an dã,
Thời sư loạn tác ngộ đa ban.
Táng giả nhân đinh chung tụ họa"


Chú vân: Mạch lai tắc hoãn, huyệt xứ đê đơn, bất khả tạo táng lãnh khí xâm quan, táng chi thử huyệt, vong mạch bất an, tử tôn tật bệnh, tuyệt địa vọng khan! Nhược cục thế hữu tình, mạch lai cận huyệt, thổ sắc kiến sinh, tắc huyệt tại đê dã bất nệ.
Hựu vân: Mạch tận xứ, tu phòng khí tuyệt, địa thần chiên tất huyệt hữu sinh, nhược ti đê, hữu tình, thậm diệu bất nệ dã.


Thi vân:
"
Lưỡng biên long hổ đấu như trùy
Nhân mạng phi tai bất định kỳ
Khuyết tý định tri, ly táng mạng!
Tàng đầu tất thị, bị dang thi!
Phương ấn tiêm đầu nhân tất sấu
Viên hình khoan hậu tử tôn phì
Thủy bức đường tiền xâm thượng tọa
Tao phùng khái thuật mạng nan y!"




Giải nghĩa:


Cách thứ hai mươi bảy
"
Khuyên rằng: tuyệt huyệt chớ nên táng,
Táng xuống chết mòn toi uổng mạng.
Cẩn thận đừng nghe thầy làm càn,
Thầy mà như thế thì sao đáng."



Lời chú: Mạch lại ngược, hoãn, chỗ huyệt lại thấp mỏng, chớ nên táng. Nếu táng tất bị lãnh khí nhập vào quan sẽ bị vong mạng, con cháu không yên, liên miên bệnh tật. Nếu cục thế có tình, có mạch đến gần huyệt, đất ở chỗ huyệt có sinh khí sắc thì huyệt ở chỗ thấp chớ nên câu nệ.
Lại nói: Mạch đến chỗ tận cùng cần phải đề phòng chỗ khí tuyệt, đất có chiên thần thì huyệt mới là sinh, nếu nhỏ thấp mà có tình là rất tốt, chớ nên câu nệ.


Thơ rằng:
"
Đấu tranh Long Hổ nhọn như trùy ( mũi dùi)
Nhân mạng vong oan chẳng hẹn kỳ.
Khuyết Tý khó toàn, Ly táng mạng,
Đấu đầu ắt hẳn tử dang thi ( chết cũng còn xiềng xích)
Ấn vuông đầu nhọn, sinh người ốm
Hậu nở hình tròn nẩy giống phì.
Thủy bức đường tiền, xâm mộ địa,
Không may gặp gỡ mệnh nan y."


Hữu nhị thập bát cách
"
Tích long chi huyệt tế suy tường,
Táng thử nhân đa thụ họa ương!
Tật bệnh yểu vong hà đắc hảo!
Quý điền dong vệ sư nhân thương!"


Chú vân: Sơn tự hữu nhi lai, tòng hữu kiên nhập thủ, tắc hoành lai hoành thụ, nhược hữu sơn, hữu án, hữu long, hữu hổ giả, nhiên huyệt cư long tích, bất khả táng dã, nhược miễn cưỡng táng chi tắc bất trường dã, nhược ngộ táng chi, dĩ đáo yểu vong! Bệnh tất tai họa! đới thận mạc quan! Tả hữu diệc nhiên, như hữu kỵ cục bất nệ. Kinh vân: “ Kỵ long tắc huyệt sinh long tích, đa tử đa tôn quý vô địch!”, rĩ thượng thất đồ giai vị tặc cách dã, thị vi giả huyệt! hoặc tác âm phần, hoặc tác dương trạch, thị vi tử tuyệt chi cách dã, thử vị ám tử khứ chi pháp dã.
Phù địa lý giả chi nan, đương tất lực, tế sát ư minh sinh lai, ám tử khứ chi pháp dã. Xả, thủ diệc dụng dã, ngộ duy đắc lục tự chi tính giả, tắc địa khí chi năng sự tất hĩ, thả dĩ khí cục vi tiên, địa mạch vi hậu hà dĩ ngôn tai? – Khí tức lý dã, đãn Dong sư dã tẩu, mang nhiên ư tứ ngũ bộ chi gian, nhi bất tri kỳ khí chi sở tại, huống dĩ thị vi phi! Dĩ chân vi ngụy, thị đồ chi thiên môn địa hộ, nệ ư đồ cục, phàm thuyết phân phân, bất tri chính quý, thân tai!

Giải nghĩa:


Cách thứ hai mươi tám
"
Huyệt trên long tích phải tinh tường;
Không phải huyệt thì bị họa ương.
Bệnh tật chết non tàn cán uổng,
Ruộng to nhà đẹp bỏ đời thường!"



Lời chú: Sơn mạch từ phía hữu lại, theo vai hữu mà nhập thủ thì gọi là HOÀNH LAI, HOÀNH THỤ, chẳng thể táng được, nếu miễn cưỡng tất bị yếu, phải thận trọng. Nếu được Long Hổ hồi hoàn, đường án minh bạch thì là huyệt Kỵ long, rất quý.
Kinh nói rằng: Huyệt KỴ LONG sinh ở trên Long tích, đất phát sinh con cháu đầy đàn, quý vô địch.
Đồ hình trên chỉ là giả huyệt chứ không phải là huyệt KỴ LONG, nếu táng mộ hoặc làm nhà thì bị tử, tuyệt vậy.


Phiên âm


Hữu nhị thập cửu cách


Thi vân:
"
Long phi, Hổ khứ chủ tha hương,
Phiêu bạt nam nhi tán tứ phương.
Kham tiếu gia trung vô nhất vật,
Nhi tôn khất thực thiên môn thương."




Giải nghĩa:


Cách thứ hai mươi chín
"Hai đầu Long, Hổ ngoảnh ra ngoài,
Phiều bạt giang hồ cả gái trai.
Khốn khó trong nhà không một vật;
Cháu con khất thực biết nhờ ai!"



Ghi chú: Từ cách này trở lên đến cách thứ 22 là 8 cách Giả Long, giả Huyệt, không thể tác dụng được. Gọi là TỬ TUYỆT CHI CÁCH, ÁM TỬ CHI ĐỊA, rất hung ác, nếu nhận nhầm hoặc không hiểu mà táng mộ, hay dựng nhà ở những chỗ như thế thì bị bại tuyệt:
Vậy nên thận trọng, Tầm long cũng phải nhớ sáu chữ “ MINH SINH LAI, ÁM TỬ KHỨ”. Nghĩa là: Thấy cách đất là Minh sinh, thì lại mà xem. Hễ thấy cách đất là Ám tử thì đi, không nên đứng nhìn nữa.


Phiên âm


Tam thập cách


Thi vân:
"
Hình như Khuyển ngọa thiếu phiêu lưu,
Kỳ thực quyền gia đắc sở ưu.
Nhất tự thánh quân chuyến bính dụng,
Quyền siêu ư thế thụ Công Hầu."




 


Giải nghĩa:


Cách thứ ba mươi



1 - "Khuyển ngọa phiêu lưu lại tốt duyên,
Quyền môn ăn gửi sướng như tiên.
Thánh quân tín dụng trao quyền bính,
Chức trọng quyền cao lại lám tiền."

2- "Hình như con chó nhỏ lang thang,
Ăn gửi nhà vua, sướng nhất làng.
Tín nhiệm giao cho chuyên việc ấy,
Quyền to hơn hết, chức cao sang."

Tinh thể hình như con chó nằm ở trong. Ngoài có vòng đai, sơn hình hai tay ngai, thủy tụ án triều, cục thế loan hoàn có thế thôi, mà ứng nghiệm, phát phước như vậy cũng lạ thay!


Mời xem các phần khác:



  1. Bảo Ngọc Thư - Lời giới thiệu

  2. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Tam thập nhất cách

  3. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Quyết đoán địa cách

  4. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tam thập lục thủy kiềm

  5. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Phụ lục: Ngọc Tủy Kinh - Bình Dương

  6. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Hữu đệ nhất cách

  7. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu đệ thất cách

  8. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu thập thất cách

  9. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Cáo Bạch

  10. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Địa lý phong thủy

  11. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Long mạch của Việt Nam

  12. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Viên cục

  13. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Ứng tinh, Biến tinh, Gián tinh

  14. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Thai phục

  15. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Quan, Quỷ, Cầm, Diệu

  16. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Đại khái hình đồ

  17. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Biện hổ thạch

  18. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Long Tổ

  19. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Bình Dương pháp tầm long

  20. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tọa Khôn, hướng Mão

  21. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tư Mã Đầu và Dạt Tăng vấn, đáp

Bài viết cùng chuyên mục

Cửa gỗ được thiết kế đúng cách còn giúp mang lại sự thịnh vượng, may mắn và sức khỏe cho gia chủ.

Việc thăng quan tiến chức phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố về năng lực, về trình độ về phong thủy chỗ làm việc.

Cửa phòng chẳng những là con đường ra vào phòng ngủ mà còn là nơi thông dẫn khí vào phòng.

Phòng cưới là nơi một đôi vợ chồng trẻ bắt đầu cuộc sống mới. Vì thế việc trang trí phòng cưới cần được tính toán kỹ lưỡng để có được khởi đầu hôn nhân tốt lành.

Trên thực tế không phải bất cứ loại cây nào cũng có thể trưng bày trong nhà. Có những loại cây mang đến cho gia đình bạn nguồn sinh khí tốt lành, may mắn, nhưng lại có một số loại cây không hề tốt...

Phong thủy nhà ở có tác động lớn đến cuộc sống, hạnh phúc và thịnh vượng của bạn và gia đình.

Phong thủy nhà ở tốt hay xấu không chỉ ảnh hưởng đến vận may của các thành viên trong gia đình mà thậm chí còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính cách của con trẻ.

Bạn có thể dễ dàng luận ứng dụng của màu sắc hợp khắc với mình để sử dụng trong sơn phết nhà cửa, cũng như phối hợp quần áo, đồ đạc trong cuộc sống hàng ngày.

Mỗi loại cây, hoa đều có ý nghĩa riêng về mặt phong thủy. Việc sắp đặt cây cảnh trong phòng ngủ có ảnh hưởng trực tiếp đến vận khí của chủ nhà.

Xưa nay, việc trồng cây xanh luôn được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường sinh khí cho nhà ở. Cỏ cây tươi tốt biểu hiện cho sinh khí thịnh vượng dồi dào.