Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Đại khái hình đồ

Ngày đăng: 19/04/2008 00:00:00

Đại khái hình đồ


Đây là cái tổ long khoảng chừng một quận: Hỏa sơn khai lưỡng kiên, trung thùy viên nhũ, chỉ nhi bất hành, mạch tòng hữu kiên xuất bách lý, kết quận thành. Kỳ trung xuất giả. Dã sư, đại phú nhân đồ táng. Vạn kim hôi bại! Tử tôn tẩu tha hương, cánh tuyệt vô hao!
Xét đây là cách trung mạch “ Hỏa hạ xuất kim”, “ Mẫu khắc tử” không thể dùng được, khí tượng cũng ác! Thời sư cho là Phi phượng hình, cưỡng táng, cho nên bại tuyệt.
Chính mạch nó xuất ở bên vai hữu sa, bên tả sa cũng có sơn phối hợp. Vậy biết là trung xuất mà không phải là trung, mà là giả xuất ( giả đối). Bên kiên xuất mới phải là chân xuất ( thực).

Luận cục











Tìm long nếu đã nhận rõ được long cách hành độ dẫn chuyền đến chỗ sáp thành, tức nơi sơn hoàn thủy bão thu vào, hội hợp lại thành một vùng, chung quanh bao bọc như hình cái vòng. Trong vòng đó dọi là Cục.
Cục thì có: Đại cục, Trung cục, Tiểu cục.
- Đại cục là cái bản sơn tự Thủy tổ xuất ( ở Thái tổ sơn ra) với các triều sơn cũng tự Thái tổ xuất, đều cùng triền hộ ( ràng quấn, hộ vệ) với nhau hợp thành một vòng tròn, rộng lớn là Đại cục.
- Trung cục là cái bản sơn ( cái sơn chính gốc) và những triều sơn đều ở Thiếu tổ ra, và cùng triền hộ với nhau, hợp thành một vòng gọi là Trung cục. ( Nếu thế cục, thật rộng to cũng là đại cục).
- Tiểu cục là cái bản sơn tự Phụ mẫu sơn ra với những triều sơn, đều ở đầu cuối cùng có tay, chân của trướng mịch sơn ( tức là tiểu chi sơn hợp lại), hợp lại một vòng nhỏ hẹp, gọi là Tiểu cục.


Đồ cục

Tất cả long mạch không có lý nào trực hành trực kết, nên phải mỗi đoạn, mỗi tiết, biến hóa ra mới thành kết cục. Xem đồ hình đại lược dưới đây:
Đại cục là Thành; Trung cục là Viên; Tiểu cục là Đường.
Nội cục thì là tay và miệng.



Nhận cục


Đi tìm long, dầu thấy long hàn ngoạn mục ( đẹp mắt) nhưng không thấy hội cục, thì không phải là nơi kết huyệt.
Nhận cục phải tinh tường. Chớ có lầm tưởng! Tuy ba (3) đường ( minh đường) cùng trong một cục, nhưng Đường môn ( thủy khẩu của tiểu cục) không hẳn đối với Thành môn ( thủy khẩu của Trung cục). Viên môn không hẳn đối với Thành môn (Thủy khẩu của Đại cục) tức là không chẩy ra cùng một phía, đó là Thiên nhiên bố trí ( bầy đặt sẵn) do Tạo hóa an bài. Xem họa đồ giả thiết đại lược dưới đây:



Kết tác xứ









Có cục đất ở một địa phương. Tổ sơn khai trướng, Chủ sơn long trường đại, loan hoàn có thể gọi là đại cục, trong cục tinh phong la liệt, cao đại, đê tiểu, đủ Ngũ hành tinh thể, hình như Tiên đới, Thiên hoa, Ngô đồng, Nga mi, Bán nguyệt v.v… Sư, Tượng, Bả môn (sư tử, voi trấn giữ cửa thành) nhưng cửa thành không phải là chủ long, và lại thô ngạnh phản diện, không phải là chỗ khí mạch chung tụ, thế mà thời sư đặt táng ở thành môn cho là phải huyệt, đáng tiếc thay!
Trong vòng đại cục này tuy có nhiều nhà hạ táng, nhưng chỉ có hai (2) ngôi kết huyệt đúng, còn phần nhiều là sai lầm, sinh tai họa. Và số ít tuy không kết phát, nhưng cũng tạm yên được, không bị phản hại lắm!
Độc giả nhận xét: những khuyên nhỏ là nơi đặt mộ, xem trong đồ cục bên đây, rồi khi đi đến những nơi địa hình địa vật rộng lớn trong vòng 5,7 cây số hoặc hai, ba chục cây số chẳng hạn, mà tìm thấy nơi kết tác huyệt trường, là thành công, thành tài, danh sư địa lý rồi.


Cục thường cũng gọi là Đường hoặc là Dương.
Những Đại địa phần nhiều là có tam Đường hoặc tứ Đường: Tiểu Đường, Nội Đường, Trung Đường, Ngoại Đường, nhưng tứ Đường không phải cục nào cũng đều hiện thấy ở cả trước mặt. Có cục, Đường ở bên tả, hoặc ở bên hữu có một đường. Ở phía sau lưng, có nước tụ, lại thành một đường thuận thủy có một đường, lại có chỗ hoành thủy ( chảy ngang) khai một đường và nghịch thủy cũng có tụ một đường, nhưng ba, bốn minh đường cũng vẫn là một huyệt chứ không được mỗi đường, lại tìm một chủ huyệt khác nữa dầu có huyệt nữa, cũng chỉ là tùy huyệt thôi, ít khi có 2 chủ huyệt.

Đi tìm long mạch, nếu thấy phía trên ( đầu) có mấy chi rủ xuống, ở phía dưới (trước mặt) cũng có mấy chi chầu lên; hoặc hậu sơn có mấy tầng lại, tiền sơn mấy lần hồi cố, tức là thành cục ở khoảng giữa những sơn khứ lai hồi cố ấy.

Những vòng cục, vuông hay tròn, đều là quý cục; nếu hình cục dài cũng quý, nhưng phải là hoành cục ( quay ngang), chứ trực ( đi thẳng) thì xấu. Nếu trực thì nên đới khúc ( gẫy cong) ôm hướng vào trong cục; nếu hướng ra ngoài là phản bội, không phải cục.

Nếu thấy quần sơn tế tế, mật mật ( là có nhiều núi non san sát, không thể lọt chân vào được) mà thấy một khu bình điền quang đãng là thành cục ở trong vùng bình điền ấy. Hoặc thấy quần sơn tán loạn, “ đông tẩu, tây bôn”, là núi đồi tản mác, cái thì đi sang đông, cái thì chạy về phía tây; mà thấy một chỗ nào đoàn tụ là cục thành ở khu đoàn tụ đó, hoặc đều là sơn hình thô ngạnh ( già cứng) chợt thấy nẩy ra một chỗ tú nộn ( non, mềm, dẻo, dẹp), tức là kết cục ở chỗ tú nộn ấy. Hoặc thấy đều là nơi hoang thôn, khoáng đã, thủy bình, là noi làng mạc, đồng bằng nước phẳng, bỗng có một chỗ đột khởi ( nổi cao), bốn mặt hồi chuyển ( quay hướng mặt vào nhau) tức là kết cục ở trong vòng đó.

Tóm lại, tất cả sơn thủy phải là đằng sau quay mặt lại phía trước, phía trước ngoảnh mặt lại phía sau; bên hữu hướng về bên tả, bên tả chầu về bên hữu tất nhiên thành cục, tức thị huyệt ngồi ở giữa.độc giả nên ghi nhận những đại ý kế trên. Khi đến những nơi có hình thể đại cục, rộng lớn, phải quan sát tinh tường thì mới biết rõ được mấy lần sơn thủy bao bọc hay phản bội, để mà định cục thực, hư ( chân, giả).


Khai diện
Khai diện ( mở mặt) là điều cần nhất, đứng đầu trước nhất của long mạch hạ lạc ( dẫn xuống) huyệt tinh.
Hậu sơn không khai diện thì không phải là mạch lai; Tiền sơn không khai diện thì không phải là sa triều; Tả sơn không khai diện là tả bão vô tình; Hữu sơn không khai diện là hữu phản giả bão.
Thấy một cục, có các sơn thủy đoàn tụ mà thấy một chi phản bối quay đi, tức là Giả cục.

Hễ thấy La thành, tứ sơn khai diện, mà nội cục có sa phản bối ( lưng quay vào, tức là ngoại cục chân ( thực) nội cục giả ( hư). Hễ thấy nội cục tứ sa khai diện, mà Viên thành hoặc ngoại thành có sơn sa phản bối bay đi, thế là nội cục chân, ngoại cục giả.
Nội cục giả, thì đoán là vô địa ( không có huyệt). Ngoại cục mà giả thì chỉ là tiểu địa ( đất nhỏ) thôi. Ngoài thành, mà sa thủy như chạy buông đi, tức là ly hương sa; nếu long chân huyệt đích thì không hại gì chỉ là quý nhân ly hương thôi. ( Đã kể ở chương, luận về Hạ sa).

Cần nhận biết đâu là diện, đâu là bối?
Bối như là sau lưng người, và như mu bàn tay. Diện như là phía trước mặt, bụng người, và như long bàn tay.
Diện thì hẳn phải hướng vào trong. Bối hẳn là hướng ra ngoài.
Có chỗ xem thấy bên tả là Bối, bên hữu cũng là Bối, gọi là phú thể ( úp mình), lưng gù lên, đấy là long hành, không thể dùng được. Có chỗ thấy bên tả là Diện, bên hữu cũng là Diện; đó là nơi long cục đại thành, chi chi kết quả, tiết tiết khai hoa ( như câu nhiều nhánh nở hoa, nhiều cành kết quả); tất nhiên trong cục ấy, có một chỗ là chủ kết ( kết huyệt chính).

Ví sơn cũng như người:Tứ chi, bách hài, tam bách lục thập cốt, xứ xứ giai huyệt, nhi chủ kết, duy tại nam, nữ chi căn, nhược dĩ cục luận tất lưỡng khóa sở khai, nãi chi nhân cục.

Nghĩa là: Ví như thân Người, bốn chi, bộ phận là tay chân, có một trăm cái xương nhỏ; tất cả lớn nhỏ trong toàn bộ có ba trăm sáu mươi (360) cái xương, chỗ nào cũng đều có huyệt cả, nhưng cái huyệt chính chủ là ở chỗ cái gốc, của người trai, hay gái ( tức là chỗ hiểm yếu). Nếu lấy cục mà luận, thì huyệt chính là ở chỗ giữa hai háng mở ra, là đích giữa hai chân đại huyệt đó.
Tóm lại, tầm long mạch phải theo sơn, thủy tình thế mà nhận cục, định huyệt, trước hết phải xét đâu là khai diện ( hướng về trước), đâu là bối ( chổng lưng về sau). Nếu chưa rõ thì phải lên đỉnh núi cao, xem cả bốn phía tường vách, sơn sa, thủy nhiễu, Đường, Viên, Thành, đều quay vòng ôm lại huyệt, mới là chân cục.

Thí dụ: như mình đứng ở chỗ huyệt, thì sơn sa, thủy thế, tứ phía chung quanh đều loan bão chầu vào mình, là hướng diện đấy. Cũng như cái tuy loan hoàn ( vòng cong) nhưng nó không chầu vào mình nó lại hướng ra ngoài, chổng quay lưng vào mình, là phản bối đấy!

Khán cục: là xem đại lược, cả Viên tường La thành. Thấy một bên khai chi, mở ra những dẫy sơn nhỏ chầu hướng vào trong, đó là phía diện. Thấy một bên cao vọt chầu hướng ra ngoài, lưng nó chổng cong vào, tức bên ấy là phản bối.
Cũng có chỗ không có chi, cước ( chân sơn thè ra) thì lấy cái bình viên ( tròn, bằng phẳng) hướng vào trong là diện. Có nhiều chi, cước mà nó đạp duỗi ra ngoài, hướng triều chỗ khác tức là bối.

Có chỗ nước tụ ở trong là diện, sơn sa quanh ở ngoài là bối. Có sơn vòng ở trong là diện, mà thủy quanh ở ngoài là bối. nhưng cốt là những chi, cước ở sát gần huyệt, mà vòng ôm vào huyệt là diện thì tốt là thực huyệt. Nếu nó so le, lệch lạc, hướng ra ngoài là phản bối đó! Tức là xấu.

Nhưng nếu thấy có năm, bẩy chi sơn sa nho nhỏ ở ngoài sơn sa lớn, mà chia ly như phới phới bay đi, thì không hại gì, mà lại là quý cách; đấy là diệu khí phát sinh.
Thấy những Đường, Viên cục ( nội cục là Đường, trung cục là Viên) nhỏ hẹp, mà bên trong và chung quanh như hoàn ( vòng vào), bên ngoài tứ phía cũng như hoàn, thì cái nơi ấy là hoàn trung ( ôm bọc chính giữa); tức là nội hảo.
- Thế nào là Viên chân, Thành chân?
- Tựa như bức tường đất, đắp đều đều không có chỗ bỏ khoáng là Viên chân,
- Tựa hồ cái thành lũy đắp đất cũng đều đều, chỗ nào cũng liền nhau, vây quanh kín là Thành chân.

Trái lại, chỗ khởi, chỗ phục; tức là chỗ có, chỗ không, cách quãng là giả Viên, giả Thành. Nếu ở chỗ gần huyệt trường mà lõm khuyết ( không khoáng); tức là Viên phá tường ( tường bể vỡ) thì huyệt không tốt, hoặc là giả huyệt, giả cục.

Có chỗ long hành là núi, mà thành cục cũng là núi; có chỗ long hành là núi lớn, mà thành cục ở chỗ núi nhỏ; có chỗ long hành là núi mà thành cục ở chỗ dồi: có chỗ long hành là đồi, mà thành cục ở chỗ bình dương ( đồng bằng).

Có chỗ long hành là núi, là đồi, là đồng bằng mà cục lại độ hà ( qua sông) quá thủy ( chìm lặn qua sông, vũng nước lớn như đầm hồ), biết thành một cục, lấy thủy loan hoàn ( ôm vòng quanh). Có cục thành ở chỗ thoát thể ( rút lìa hẳn ra) mà cũng có sơn tủy loan hoàn.

Có chỗ thoát thân đi, rồi lại thoát nữa, hay là buông lìa đi, rồi lại lìa buông đi lần nữa, một lần thủy nhiễu ( nước vòng quanh), hai ba lần; hoặc năm, bẩy lần thủy nhiễu không chừng.

Có cái bình cục mà lại là đại cục, sơn hoàn thủy nhiễu v.v.. khả dĩ ý hội, bất khả mục đổ ( là lấy ý mà biết, chứ cũng chẳng có thể mắt thấy cả được).

Có cái long hành lâm thủy ( tới nước) cái bản sơn ra nửa cục, còn nửa cục là cái ngoại sơn ( sơn ở ngoài đến) ở ngoài cái thủy, thấu hợp thành chủ cục; có cái long ra nửa cục, thủy thấu nửa cục: có cục nửa là núi, nửa là đồi, nửa là đồng bằng; có chỗ phân ra ba, bẩy cái rồi thấu hợp với nhau thành cục, nhưng hết thẩy các cục mà không phải là phá cục thì mới dùng được.

Những cục tứ vi đều cao là tốt, tứ vi đều bình là tốt; hoặc khởi phục cũng là tốt. Nhưng, cần nhất là ở chỗ gần huyệt thì nó phải hộ vệ thì chủ mới vững bền, không phá thành, đương ngay ở chỗ huyệt cũng là tốt cả. Rất sợ là phá thành ngay ở sát nách mình ( gần huyệt), nếu phá khuyết thì “viễn phong xạ huyệt” ( gió thổi bắn vào chỗ huyệt) là hư hỏng thì không dùng được.

Muốn xét cục chân hay giả, thì phải lên đỉnh núi cao nhìn xem sơn, thủy nó bố trí rõ ràng như trong bản họa đồ, thì mới hiểu tình thế của cục ấy. Nếu sơn ở một bên, cục lại ở một bên như vậy là thế thiên, hình biến; vậy thì phải tinh ý mới biết được. Nếu không thể lên núi cao được, thì phải đi chung quanh khắp cả chu vi. Nếu nhiều ngòi lạch không thể bộ hành được, thì phải dùng thuyền bè mà đi xem tứ vi sơn, sa, thủy, nó khởi, chỉ nhiễu bão như thế nào, chớ nên hồ đồ thì uổng phí công phu, vì phần nhiều là sơn xuyên dời đi một đoạn là thay hình đổi dạng, không thể đứng một chỗ mà biết được toàn hay khuyết.

Xem cục thì phải biết chỗ nó đại giao hội, đại bao khỏa, đại thành quách ( nghĩa là sơn thủy gặp nhau rộng lớn, bao bọc rộng lớn, thành quách rộng lớn) có đến 9,10 lần bao vây và ngoài hơn nữa không chừng. Bao vây từ ngoài xa, lần lần vào đến trong, giữa hẹp nhỏ khoảng độ giải lọt chiếc chiếu không chừng, tức là trung tâm điểm, nên phải có nhỡn lực nhìn xa, trông rộng và tinh tường, hiểu biết đến tận long, cùng cục, thì điểm huyệt mới không sai.

Xem đất, trước hết phải thuộc Ngũ hành chính thể và biến thể ( Xem ở họa đồ đã có đủ hình tượng) và nhận đó mà tìm long thì rõ được chính cách và biến cách. Đến lúc long pháp sắp thành, thì cái thế của nó thường hay tán ( phân tản ra), đấy không phải là Tạo hóa hiếu kỳ; tức là từ chỗ ấy mà phát huy, mới là “tận sinh thành chi diệu”! Đến cái địa vị ấy mới càng khó, lại thêm rất nhiều công phu hơn, mới nhận định được ! Vì chỗ hội lại thành cục, đó là nơi long mạch chỉ túc ( ở lại không đi nữa), gọi là long tận. Nhưng, long tận không phải là tận ở chỗ vô sơn, mà bảo là tận, chính là tận ở chỗ “ long khẩu thổ khí” ( cửa miệng nhả khí hơi ra); đấy mới là tận long; và đó là long khẩu; hoặc hiện ở đỉnh núi, gọi là long phi! Hoặc vào chỗ nước tụ, gọi là tiềm long ( mạch chìm); hoặc ở chỗ quần sơn ( nhiều dãy núi) gọi là bàn long. Cho nên chỉ có Hoành thủy cục, Hồi long cục thôi; chứ không có trực thủy hay trực sơn cục. Nếu thấy một cái trực sơn lại, hoặc một cái trực thủy lại, đương trước mặt thẳng đi, tức là tử sơn ( sơn chết), không có long mạch, hay tử thủy ( thủy chết) không có khí tụ.

Hỏi: - Có cái đại long lâm thủy ( tới chỗ nước ) nội đường đi thẳng và dài gần một dặm hoặc hơn một dặm, cái ấy không được bảo là trực thủy là thế nào?
- Cái lâm thủy ấy tức có hoành cục để ngăn chặn, ngoài tất có cái hoành sa che đậy. Ngoài cái sa ấy, thường đã có cái đại thủy chuyển qua ngang, hoặc chầu lại, thì gọi là “ trực thủy chi cục” , “ long khẩu sở thổ chi tân” ( cái bến) chứ không phải là trực thủy phóng đi; sẽ phải lên cao mà xem cục, cái trực hẳn biến ra tròn, hoặc lại biến ra vuông, không thành trực nữa, vì 2 hoặc 3,4 cái thủy liên giao, hội thành đại cục chẳng hạn.

Đã nói là: không có trực thủy cục, nếu thực là trực thủy cục, mà tác cục ở ngay chỗ thủy khứ, tất thị “ phi chân long, chỉ túc chi địa”, tất bại nhân gia!

Nên, độc giả muốn thành tài thành danh Địa lý Sư, trước hết phải biết Tinh thần (là tinh thể ngũ hành). Biết tinh thể rồi sẽ nói đến cách cục ( là hành long cách cục), hiểu cách cục rồi thì đến huyệt. Huyệt thì lại càng khó hơn, vì tường được huyệt rồi còn phải biết lập hướng, và lập hướng thì lại khó hơn nữa! Thực là công phu không thể nói xiết, nên có câu: “ Cùng thần nhập hóa”, Nan ngôn! Chính là nghĩa đó.

Tuy nói là khó, nhưng cũng chẳng phải là khó; nếu khó sao có nhiều người biết? Nên không có gì khó cả, chỉ khó là ở chỗ không chịu khó học hỏi, và không chịu suy xét; nên có chữ là: “ Dị chi dị, nan chi nan”!( nghĩa là: Dễ với người cho là dễ, khó với người cho là khó thôi).


Vọng khí


Vọng khí là trông cái khí ( hơi đất, nước) của sơn xuyên bốc lên, để xem xét súc kết tác của long mạch thế nào.
Cứ vào khoảng cuối mùa Hạ, sang đầu mùa Thu, sau kỳ mưa tạnh mây tỏa, thì về lúc giờ Sửu, giờ Dần tức là nửa đêm về sáng; ra trông lên đỉnh ngọn Thái tổ sơn, hễ thấy khí xung thẳng lên dưới bé trên to xòe ra như hình cái tán, cái lọng, đó là chân khí. Nếu ở ngang lưng sườn núi, là mây hoặc sa mù ám; chứ không phải là khí của núi ấy phát xuất. Thấy khí thanh kỳ ( trong sáng) là Phát quý; thấy khí Phì trọc ( đặc đục) là Phát phú, vượng nhân đinh. Khí lên đoan chính thì xuất văn quý, khí lên thiên tà thì xuất võ dũng.
Đấy là ở trong kinh Tiết thiên cơ, minh bạch xác định như vậy.


Thường thủy


Thường thủy, là nếm nước, thử mùi nước có thể biết đất mỹ hoặc ác; nên có phép nếm nước. Ở vùng bình cương, bình dương nước chẩy ra khe lạch, thì nếm nước ở giếng, suối.
Ở miền núi cao, thì nếm nước suối khe núi. Ở giữa vùng núi rừng cao sâu, không lên tới thì theo dòng nước khe suối chẩy xuống nếm xem, thấy nước ngon ngọt và có thoang thoảng mùi thơm thì Phát đại quý; ngọt thì có đất phát phú, vượng tài, đa đinh, nếu ngọt mà có chất cay thì phát võ quý; nếu nước có chất chua, chát thì không phải là cát địa! Nước trong là quý, nước đục là thường kỵ dụng, ( không kể nước đục bởi đồng ruộng cày cấy).

Mùa Đông thì nước ấm ấm, mùa Hạ thì nước lạnh mát mới là tốt.
Đời xưa, Ngô Công nếm nước ở vùng đất tổ mộ nhà Chu Phu Tử có mùi thơm, cho là có Hàn mac hương. Đoán trước là đất ấy sẽ xuất một người hiền, thông minh như Khổng Tử.


Mời xem các phần khác:



  1. Bảo Ngọc Thư - Lời giới thiệu

  2. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Tam thập nhất cách

  3. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Quyết đoán địa cách

  4. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tam thập lục thủy kiềm

  5. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Phụ lục: Ngọc Tủy Kinh - Bình Dương

  6. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Hữu đệ nhất cách

  7. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu đệ thất cách

  8. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu thập thất cách

  9. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu nhị thập nhị cách

  10. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Cáo Bạch

  11. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Địa lý phong thủy

  12. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Long mạch của Việt Nam

  13. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Viên cục

  14. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Ứng tinh, Biến tinh, Gián tinh

  15. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Thai phục

  16. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Quan, Quỷ, Cầm, Diệu

  17. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Biện hổ thạch

  18. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Long Tổ

  19. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Bình Dương pháp tầm long

  20. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tọa Khôn, hướng Mão

  21. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tư Mã Đầu và Dạt Tăng vấn, đáp

Bài viết cùng chuyên mục

Cửa gỗ được thiết kế đúng cách còn giúp mang lại sự thịnh vượng, may mắn và sức khỏe cho gia chủ.

Việc thăng quan tiến chức phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố về năng lực, về trình độ về phong thủy chỗ làm việc.

Cửa phòng chẳng những là con đường ra vào phòng ngủ mà còn là nơi thông dẫn khí vào phòng.

Phòng cưới là nơi một đôi vợ chồng trẻ bắt đầu cuộc sống mới. Vì thế việc trang trí phòng cưới cần được tính toán kỹ lưỡng để có được khởi đầu hôn nhân tốt lành.

Trên thực tế không phải bất cứ loại cây nào cũng có thể trưng bày trong nhà. Có những loại cây mang đến cho gia đình bạn nguồn sinh khí tốt lành, may mắn, nhưng lại có một số loại cây không hề tốt...

Phong thủy nhà ở có tác động lớn đến cuộc sống, hạnh phúc và thịnh vượng của bạn và gia đình.

Phong thủy nhà ở tốt hay xấu không chỉ ảnh hưởng đến vận may của các thành viên trong gia đình mà thậm chí còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính cách của con trẻ.

Bạn có thể dễ dàng luận ứng dụng của màu sắc hợp khắc với mình để sử dụng trong sơn phết nhà cửa, cũng như phối hợp quần áo, đồ đạc trong cuộc sống hàng ngày.

Mỗi loại cây, hoa đều có ý nghĩa riêng về mặt phong thủy. Việc sắp đặt cây cảnh trong phòng ngủ có ảnh hưởng trực tiếp đến vận khí của chủ nhà.

Xưa nay, việc trồng cây xanh luôn được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường sinh khí cho nhà ở. Cỏ cây tươi tốt biểu hiện cho sinh khí thịnh vượng dồi dào.