Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Bình Dương pháp tầm long

Ngày đăng: 19/04/2008 00:00:00

Khi đã phục xuống thấp thì long mạch trầm ẩn khoan thư đi theo chiều thấp là phía đông nam địa cầu, thì mặt đất đã bình tĩnh, thấp, không cao hơn mặt biển lắm, nên gọi là miền Bình dương. Nhưng trong miền Bình dương, rộng lớn, cũng có cao, thấp, chênh lệch nhau ít nhiều, nên cũng phân biệt ra làm ba, bốn vùng như là: Vùng Cận sơn có nhiều đồi, núi thấp ở liền với miền Sơn cốc ( núi cao); vùng Cao nguyên là vùng đồng bằng nhưng ở trên cao, liên tiếp với miền Cận sơn; vùng Trung châu là vùng đồng bằng thấp hơn miền Cao nguyên, lại còn vùng đồng lầy, nước đọng nữa, trong sách chữ Hán gọi là Trạch quốc, Thủy hương, ở Trung Hoa có vùng rộng lớn, dài mấy trăm dặm toàn là đồng nước quanh năm). Long mạch đương nổi cao dẫn dài đi, mà đốn phục xuống tức là tản ra hoặc chìm xuống, nên đột khởi ít, phần nhiều là không thấy long tích, bởi vì mạch chìm lặn, luồn qua cả đáy sông ngòi, đầm, hồ rồi mới ngóc nhô lên, không biết ở tông sơn nào buông xuống; có chỗ dẫn đi dài, có chỗ dẫn đi ngắn một đoạn đã phục xuống, không còn cuống mạch có chỗ thì xuyên qua đồng ruộng, truyền góc ruộng này chuyển tới ruộng kia, gọi là “ xuyên điền truyền giác”; có chỗ thì phẳng lặng, cách mấy trăm thước mới thấy khởi lên mấy cái gò đống nhỏ hoặc mấy mảnh ruộng cao hơn một chút, rồi lại mất dấu vết dẫn đi. Nên có câu: “ Mạch lạc Bình dương mạc vấn tông; chỉ quan thủy nhiễu định chân long”. Nghĩa là: Mạch xuống đồng bằng không cần hỏi tông tích; chỉ xem nước bao vây quấn quanh, mà định long mạch thôi.

Vậy tìm đất ở những vùng đồng bằng đã kể trên, thì trước hết phải xem nước ở phương nào lại, dẫn đi đến chỗ nào, gặp dòng nước khác giao hội, hợp nhau tụ lại,tức là: “ mạch chỉ, thủy giao” thì ở trong vùng gần đấy mới có huyệt.

Đại hà, đại giang, khê, tụ họp là đại địa; tiểu giang, khê, cừ v.v…là trung địa; tiểu trì, tiểu điền, thiển thủy là tiểu địa. Tùy xem sơn thủy của cục thế dài, rộng, ngắn, hẹp, nhiều ít mà định đoán lực lượng địa huyệt to, nhỏ.

Hình thể, tinh thần ( tinh phong) và kiểu cách thì cũng như ở miền sơn cốc, chỉ khác là ở miền núi cao thì hình thể đứng cao, còn ở miền đồng bằng thì hình thể nằm, thấp.

Hễ thấy chỗ nào có những khu ruộng, hoặc giải đất cao hơn hai bên, hoặc dài, hoặc ngắn, gồ lên lún xuống, vòng ra ôm vào, quanh co, uốn khúc v.v… tựa hồ như hình con rồng, con rắn hoạt động, chữ gọi là “ Hoạt long, Hoạt xà” tức là Sinh long (mạch sống). Nếu hợp lại như thành quách rộng lớn, là kết đại cục, thì có quý huyệt, đại địa, nếu thấy nhũng giải ruộng đất, tuy có nổi cao, nhưng bằng phẳng, hoặc nằm đườn ra như con lươn, con trạch chết, chữ gọi: “Tử thu Tử thiện” là Tử long ( mạch chết), thì không kết huyệt; nếu có cũng chỉ là hung-huyệt, không nên dùng!

Hễ thấy chỗ nào có gò đống đột lên cao, hoặc thấp, hoặc to, hoặc nhỏ, nhiều hay ít đều hay có huyệt kết; nếu có nhiều gò đống đột khởi thành thể ngũ tinh: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ cao lớn và đắc phương vị thành kiểu cách, là đại địa phát quý nhiều hơn phát phú, hay là văn nhiều hơn võ, v.v…Tùy từng kiểu cách của Ngũ tinh và Cửu tinh ở bản đồ hình nhận xét mà phán đoán.
Vậy sách có câu: “ Thế thế liên khoa mục, do hồ long thượng khởi tinh phong”.

Nghĩa là: đời này qua đời khác nối tiếp thi đỗ văn khoa, võ bảng là bởi có gò đống ở trên long tích, long thân, tức là ở trên giải ruộng đất cao hoặc thấp.
Hễ thấy chỗ nào 1,2 hoặc 3,4 chi thủy khuất khúc từ xa chạy lại, tụ họp ở minh đường, quyết nhiên vùng đó có đại quý, đại phú huyệt, nếu là đại thế trường lưu, thu được nhiều nước là đại cục, đại địa. Tiểu khu, tiểu thủy, tức là thu được ít nước thì là tiểu cục v.v.. Nhưng bất luận trường hay đoản, đại hay tiểu, đa hay thiểu, đều phải hợp cách, đắc phương vị cũng như long sơn, thì mới được là quý thủy ( nước hay).

Vậy có cậu phú, đối với câu kể trên:
“ Đại đại mãn khố sương, hệ thị trường trung trừ tú thủy”.
Nghĩa là: Đời đời có của chứa đầy kho, két, là vì có nhiều nước trong sạch lưu tụ ở trong minh đường.
Hai câu phú đoán về sơn thủy trên đây, là đại ý nói về phần chủ yếu thôi , vì sách có chữ: “Sơn chủ quý, thủy chủ phú”; chứ thực ra thì sơn thủy đều có phát quý, phát phú cả nếu đắc phương vị và hợp cách.

Còn những nơi bình điền, khoáng dã chỉ thấy một làn bằng phẳng, không phân cao thấp; hoặc có phân cao thấp những khu dài rộng, mà không đột khởi gò đống, dầu thấp nhỏ; hoặc những thửa ruộng cao hơn ít nhiều ở trong khu bình điền, bình địa ấy, thì là long mạch tán mạn, câu chữ gọi là: “Hình như chỉ phiến; thản-nhược bì ngưu” (Nghĩa là: im lặng như tờ giấy, phẳng lì như tấm da trâu), tức long mạch bạc nhược, thì không kết tác được, không có kết huyệt, thì đừng đến tìm phí công.

Vậy có câu: “ Hữu bộc, phương tầm chủ; vô-thần, mạc-vấn-quân”! ( Nghĩa là: Có thấy gia nô sẽ tìm chủ nhân; không thấy bầy-tôi thì đừng hỏi vua chúa).
Bộc và thần ở đây là ám chỉ vào tinh phong; chủ và quân là ám chỉ vào huyệt. Ý nghĩa bóng, là thấy tinh phong xuất hiện thì tìm huyệt; không thấy gì khởi động, thì làm gì có huyệt mà tìm!
Nhưng có đột khởi cũng không sao mấy, phần nhiều là đê bình vi tiểu thường chỉ cao hơn nhau một vài thước; có chỗ chỉ cao hơn một, hai tấc không chừng! Vì long mạch đi chìm sâu, lại phân tản, không còn đại-tụ, nên không cương-ngạnh cấp-bách, thì không đột khởi cao. Nhưng khí lực vẫn sung túc, hùng hậu, vì đã chìm lặng mà còn khởi đột được là mạnh lắm! Nên sách địa lý đã có câu quyết định:
“ Sơn cao thiên nhận, bất như bình địa nhất đôi”! Nghĩa là: “Núi cao ngàn đợt, không bằng một đống ở nơi đất bằng”.
Nghe thấy câu so sánh như vậy, những ai chưa thấy thì cho là “ quá ư đại ngôn”! Đâu có tin, nhưng ai đã được thấy thì mới công nhận là Thánh hiền nói đúng.

Bằng chứng là, ở nước Việt Nam ta về vùng trung châu Bắc-Việt, đã từng có nhiều tổ mộ xưa, ở nơi bình địa, chỉ thấy cái gò đống nhỏ, như hình Hỏa tinh, Kim tinh, Thổ tinh gọi là bút bảng, ấn kiếm v.v…thế mà kết ứng, phát xuất đến Trạng nguyên, tiến sĩ, anh hùng, dũng tướng, Đế vương, danh lừng thế giới, không còn chối cãi được nữa!

Các hình tượng thuộc về tinh thể của Ngũ hành, đại khái cũng thế, chỉ khác là một đằng thì rộng lớn, đột cao, là thể đứng; một đằng thì nhỏ hẹp, và đột khởi thấp, là hình thể nằm. Cũng có chỗ tuy nhỏ hẹp, nhưng cũng đột cao vừa tầm tương xứng, cũng là thể đứng như là hình giá bút, đốn cổ, sương khố, quỹ phủ v.v.. thì cực là quý cách! Quả là ứng nghiệm hiển nhiên.
Đất ở miền bình dương thì hay kết tác vào những gò đống và những ruộng cao, hoặc ở ruộng cao ít, liền với ruộng đất cao, hay là gần gò đống có dư khí nhả ra.

Ở Bình dương thì mộ để trên gò, đống hoặc ruộng cao cũng không sợ phong suy ( gió thổi), chỉ cần có nước tụ thôi; nếu có nước ở gần nơi kết huyệt thì tốt lắm! Nhưng phải là nước loan hoàn ( ôm vào mộ) yên tĩnh, chứ không nên gần nước phản vào mặt và lưu động ( chẩy mạnh) thì lại hỏng! Nên có câu: “ Thủy để tu cầu tứ thế bức”; “ Bình dương bất phạ bát phong suy”! Nghĩa là: Mộ để ở trong vùng nước, nên tìm chỗ có bốn bề cao, tức là để ở những gò đống hoặc bãi ụ ở trong hồ, ao hay là đầm, vũng; vì ở đồng bằng là cả một khu rộng lớn, bình thản đều nhau và đều thấp, nếu tám phương im tịnh mà có một phương khởi phong ( nổi gió), thì gió ấy tản ra khắp cả chỗ nào cũng có, sức gió như nhau, không có chỗ gió nặng, gió nhẹ, xiên thẳng vào một chỗ mộ phần. Không như ở miền Sơn cốc, vì núi cao như ngọn tháp, bờ thành vây quanh; nếu chỗ có, chỗ không, chỗ cao, chỗ thấp và huyệt lại ở cao, mà có một hoặc hai phía không có núi che vây, là gió dồn cả vào một luồng thổi rất mạnh, tức là ngọn gió lùa tuôn qua, thì khí tản đi hết, nên gọi là “ phong suy xạ huyệt”, chẳng những không kết mà còn lãnh khí xung quan, thì hài cốt tiêu tan, nên con cháu bị gia tán, nhân vong bần hàn bại tuyệt! Nên có câu: “ Sơn cốc yếu tàng phong; Bình dương tu hàn thủy”.
Nghĩa là: Ở miền núi, cần phải kín gió; ở miền đồng bằng cần phải có nước ngăn.

Vì ở miền Bình dương, mạch phần nhiều là tản ra cả một phiến đồng ruộng rộng lớn, ít có chỗ thu gọn, nên chỗ nào có rạch nước hoặc giải ruộng đất thấp chứa nước, thì mới trông thấy long tích, tức là giải ruộng đất cao hơn hai bên, nếu không có nước hoặc giải ruộng thấp, chỉ lượng suy theo chiều bóng, vết của mạch, xuyên điền, truyền giác, ẩn ẩn vi vi tức là náu ẩn, hơi gợn một chút ít, gọi là “Thảo xà, hôi tuyến chi mạch” ( Nghĩa là như con rắn luồn trong bãi cỏ ngắn ngọn lăn tăn, mới có vết động, hoặc như sợi dây tro tàn đứt khúc nằm trên bãi bằng phẳng, có vết gợn lên tí chút mà tinh mắt mới trông thấy). Có chỗ phải cúi áp xuống mặt đất, mới phân rõ được cao thấp hơn nhau, để mà định lai long ( mạch lại).

Có chỗ mạch đi hình dạng như con nhện giăng tơ, hoặc như vết chân ngực chạy, tên chữ: “ Thù ti, Mã tích”, là chỉ thấy có vài cái gò đống cách quãng đột lên lổm nhổm thôi, chứ mặt đất vẫn phẳng lặng một mực như nhau.

Có chỗ mạch đi tựa hồ như cái ngó sen, bẻ gẫy từng khúc, rồi kéo ra mà vẫn còn sợi tơ, dắt dài liền một chuỗi. Có chỗ thì mất hẳn, không thấy tí gì gợn, không biết mạch đi về phía nào cả! Chỉ là một phiến bình điền rộng lớn, đến chỗ gần nước mới thấy có mấy cái tinh thể, hoặc giải ruộng đất khởi đột lên cao một chút, thì mới biết là mạch động.

Vậy chứng minh là: long mạch hành, ngộ thủy tắc chỉ, ( gặp nước thời đứng lại) mạch chỉ, tắc thủy giao ( mạch đứng lại thì thủy giao nhau). Mạch chỉ, thủy giao, thì khí mới tụ. Khí có tụ thì mới khởi vựng, có khởi vựng tức là kết tác huyệt trường ở chỗ sơn vựng đó. Nên có câu: “Hữu đường tắc hữu huyệt; Vô đường tắc vô huyệt”! Nghĩa là: Có tụ thủy ở minh đường thì mới có huyệt không có minh đường tụ thủy thì không có huyệt, tuy mùa nắng khô cạn, nhưng mùa mưa thì có nước đọng lại, mới phải là có minh đường.

Nên ở vùng Bình dương cần phải có nước tụ. Nhưng nước chẩy lại hội tụ, phải hợp pháp thì mới là nước tốt, nước hay, thì mới phát phú, phát quý. Nếu là nước xấu, là hoàng tuyền thủy lưu nhập thì không phát phúc mà còn phát họa! Sẽ xem thủy pháp ở mục lập hướng, tiểu nạp, diễn tả sau.

Cả Âm phần và Dương trạch ở vùng Bình dương, đều nên phong quang. Dĩ nhiên là phải có sơn sa hoàn bão, nhưng cần là tương xứng với phần mộ thôi, chứ không nên cao quá và bức cận thì không tốt.

Ở Bình dương tọa không cũng được, chứ không cần phải có chẩm hậu hoặc ruộng đất cao; nếu có thì cũng không nên cao quá huyệt sơn. Tất cả tiền án và tả, hữu sơn sa cũng vậy, phải tương đương ngang nhau hoặc thấp hơn huyệt thì mới tốt; nếu cao hơn thì phải xa ra, cao quá như núi thì phải ở ngoài xa chầu vào, không áp bức mộ mới được. Sách có câu: “Án viễn triều bất phạ xung thiên; Án cận huyệt đãn hiềm quá não”! Nghĩa là: Án như núi cao ngất trời, nhưng ở đằng xa chầu vào mộ cũng không sợ, càng là tốt vì ở xa thì càng cao, càng hay và càng đẹp; tức là cảnh thanh sơn tú lệ, viễn triều, là thế cục trọng đại!

- Án ở gần huyệt chỉ sợ cao hơn đầu, túc là cao, mà ở ngoài trông không thấy phần mộ.
Lại có câu: “ Triều sơn viễn, cận yếu tương đương; bất nghi chủ nhược đối tân cường”! Nghĩa là: Những tinh phong sơn sa triều ứng hộ vệ ở chung quanh, dầu xa hay gần, cần phải tương đương ngang nhau, không nên chủ ( huyệt sơn) thấp, yếu đối với khách ( triền sơn) cao, mạnh.
- Huyệt là chủ, sơn sa là khách ; chủ hơn khách thì mới hay, khách hơn chủ là khách lấn chủ thì không tốt!
Chủ cường thịnh, thì khách mới tôn kính; nếu chủ suy nhược thì khách khinh nhờn, là lẽ tất nhiên! Địa lý cũng như chân lý.


Mời xem các phần khác:



  1. Bảo Ngọc Thư - Lời giới thiệu

  2. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Tam thập nhất cách

  3. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Quyết đoán địa cách

  4. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tam thập lục thủy kiềm

  5. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Phụ lục: Ngọc Tủy Kinh - Bình Dương

  6. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Hữu đệ nhất cách

  7. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu đệ thất cách

  8. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu thập thất cách

  9. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu nhị thập nhị cách

  10. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Cáo Bạch

  11. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Địa lý phong thủy

  12. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Long mạch của Việt Nam

  13. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Viên cục

  14. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Ứng tinh, Biến tinh, Gián tinh

  15. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Thai phục

  16. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Quan, Quỷ, Cầm, Diệu

  17. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Đại khái hình đồ

  18. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Biện hổ thạch

  19. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Long Tổ

  20. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tọa Khôn, hướng Mão

  21. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tư Mã Đầu và Dạt Tăng vấn, đáp

Bài viết cùng chuyên mục

Cửa gỗ được thiết kế đúng cách còn giúp mang lại sự thịnh vượng, may mắn và sức khỏe cho gia chủ.

Việc thăng quan tiến chức phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố về năng lực, về trình độ về phong thủy chỗ làm việc.

Cửa phòng chẳng những là con đường ra vào phòng ngủ mà còn là nơi thông dẫn khí vào phòng.

Phòng cưới là nơi một đôi vợ chồng trẻ bắt đầu cuộc sống mới. Vì thế việc trang trí phòng cưới cần được tính toán kỹ lưỡng để có được khởi đầu hôn nhân tốt lành.

Trên thực tế không phải bất cứ loại cây nào cũng có thể trưng bày trong nhà. Có những loại cây mang đến cho gia đình bạn nguồn sinh khí tốt lành, may mắn, nhưng lại có một số loại cây không hề tốt...

Phong thủy nhà ở có tác động lớn đến cuộc sống, hạnh phúc và thịnh vượng của bạn và gia đình.

Phong thủy nhà ở tốt hay xấu không chỉ ảnh hưởng đến vận may của các thành viên trong gia đình mà thậm chí còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính cách của con trẻ.

Bạn có thể dễ dàng luận ứng dụng của màu sắc hợp khắc với mình để sử dụng trong sơn phết nhà cửa, cũng như phối hợp quần áo, đồ đạc trong cuộc sống hàng ngày.

Mỗi loại cây, hoa đều có ý nghĩa riêng về mặt phong thủy. Việc sắp đặt cây cảnh trong phòng ngủ có ảnh hưởng trực tiếp đến vận khí của chủ nhà.

Xưa nay, việc trồng cây xanh luôn được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường sinh khí cho nhà ở. Cỏ cây tươi tốt biểu hiện cho sinh khí thịnh vượng dồi dào.