Bánh tét lá cẩm

Ngày đăng: 02/02/2010 00:00:00

Để làm nhân bánh tét lá cẩm, chuẩn bị sẵn: Lòng đỏ trứng vịt muối, lạp xưởng, nạc heo, nấm đông cô, đậu phộng... Dừa khô nạo vắt lấy nước cốt và nước dão. Đậu xanh cà ngâm nở, đãi vỏ, nấu chín với nước dừa dão rồi đánh nhuyễn. Hành lá xắt nhuyễn. Mỡ thịt trần nước sôi, xắt sợi dài khoảng 10cm, vuông chừng 1cm. Bắc chảo lên bếp, cho mỡ nước vào. Mỡ vừa nóng thì cho hành lá xắt nhuyễn cùng đậu xanh và muối vào, xào đều rồi nhấc xuống.


Người ta dùng lá cẩm còn tươi giã vắt lấy nước cốt. Chọn nếp rặt để có được đòn bánh dẻo, ngon, có mùi thơm đặc trưng. Nước cốt lá cẩm trộn đều với nếp, để qua một đêm sẽ cho nếp màu tím sẫm rất đẹp. Tuy nhiên, có người xào nước lá cẩm đã nấu sôi cùng nước cốt dừa với nếp cùng một chút muối.


Tất cả xong xuôi, trải nếp dài theo lá chuối, trải lớp đậu xanh rồi cho sợi mỡ nằm lên trên, cùng lạp xưởng, lòng đỏ trứng vịt muối thịt nạc, nấm đông cô, đậu phộng... Trải thêm lớp đậu xanh và nếp nữa, bấy giờ mới cuốn thành đòn bánh trước khi dùng dây lạt buộc chặt. Buộc bánh phải biết kỹ thuật, nếu buộc lỏng tay, sau khi nấu bánh vô nước “bở rệt”, nhưng buột chặt quá sẽ khiến đòn bánh khô cứng.


Đặt nồi nước trên bếp lửa to, khi nước sôi thì thả từng đòn bánh vào. Vừa tiếp lửa vừa châm nước khoảng 4-5 tiếng đồng hồ thì bánh chín. Bấy giờ, tháo dây, lột bỏ lá, “tét” bánh thành từng khoanh, bày ra dĩa. Từng khoanh bánh sẽ có màu tím thẫm của nếp bao quanh màu vàng của đậu, màu trắng của mỡ, màu đỏ cam của trứng, màu đỏ sẫm của lạp xưởng... Cắn một miếng, sẽ nghe sự tổng hòa mùi của gia vị và các loại thực phẩm gói bánh trong hương thơm lá cẩm và nếp ngon. Nếu buộc và nấu đúng cách, bánh tét lá cẩm có thể để được từ 5 - 7 ngày. Muốn để lâu hơn thì cho bánh vào ngăn đá tủ lạnh, trước khi ăn, đem bánh hấp lại bằng cách đun nước sôi rồi mới cho bánh vào, nấu khoảng 2 tiếng đồng hồ cho bánh chín lần nữa, mới ngon.


Bánh tét lá cẩm không chỉ đãi khách trong những ngày đầu năm mới mà còn là thứ quà tặng những người thân quen như ý chúc một năm mới tràn đầy hạnh phúc và thịnh vượng với màu lá cẩm tím thủy chung.


Có thể nói gói và nấu bánh tét là một “ngày hội” gia đình, ông bà con cháu xúm nhau mỗi người làm một việc. Kẻ nạo dừa, người rọc lá chuối lau sạch, người khác lo làm nhân bánh, rồi một ai đó có “hoa tay” gói bánh thành đòn trước khi sắp cẩn thận vào nồi bự nấu sôi nhiều lửa. Họ vừa làm vừa rỉ rả những chuyện “hồi nẳm” tưởng đã chìm khuất trong dĩ vãng. Đó cũng là cách “ôn cố tri tân” để bọn trẻ học tập rút kinh nghiệm sống sao cho tốt trong một năm mới sắp về.

Bài viết cùng chuyên mục

Bài viết dưới đây của Trần Minh Nhật - một học sinh của tôi và là nhà nghiên cứu Địa Lý Lạc Việt xuất sắc của TT NC Lý học Đông phương - Đáng nhẽ ra, anh Trần Minh Nhật là Phó Giám đốc phụ trách...

Với vai trò là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa Việt Nam, Tết Nguyên Đán vẫn mang trọn những nét đẹp truyền thống dù trải qua biết bao năm tháng.

Tết đến Xuân về không chỉ là niềm khao khát của biết bao đứa trẻ để được xúng xính quần áo mới, được ăn bánh mứt và nhất là được nhận lì xì.

&quot;Thầy cho con ăn một bát canh này thật là một niềm hạnh phúc. Hương vị cua đồng quê nhà ít có thức ăn nào sánh tày, quả là ngon&quot;.<br />

Đó là những ngôi chùa có vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam, vì nhiều lý do đã bị phá hủy hoàn toàn và không được khôi phục trở lại.<br />

Lễ cúng ông Táo cần phải được tiến hành trước khi ông Táo bay về trời báo cáo Ngọc hoàng, tức là trước 12h trưa ngày 23 tháng Chạp.

Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép, do đó có những sự khác nhau về tình tiết...

Thưởng trà là một nghệ thuật đòi hỏi sự tinh tế, cầu kỳ và công phu trong từng chi tiết. Đạo của trà Việt nằm ở cái tâm, cái thế của người pha cũng như người thưởng thức…

Các nghi lễ và lễ hội cung đình Huế là thành tố quan trọng nhất tạo nên bản sắc văn hóa Huế

Tây Nguyên được biết đến như là miền đất huyền thoại, là nơi cư trú của các dân tộc thiểu số: Ê- đê; Mnông; Gia Rai; Ba Na;… Đó là vùng đất của những điệu cồng chiêng, của rượu cần, đàn Tơrưng… và...