Bản sắc văn hóa Việt qua ngôn ngữ Việt

Ngày đăng: 15/06/2011 00:00:00

(Bài nói chuyện tại HỘI NGHỊ THẾ GIỚI VỀ VĂN HÓA VÀ TƯ TƯỞNG VIỆT LẦN THỨ NHẤT NĂM 2006 TẠI MELBOURNE- ÚC CHÂU).


Nguyễn Xuân Quang


Trước hết xin nói qua một chút về bản sắc hay cót lõi của văn hóa Việt là gì? Tôi đã chứng minh cốt lõi của nền văn hóa Việt Nam là Vũ Trụ Giáo, Mặt Trời Giáo (về thời phụ quyền Mặt Trời Giáo ngự trị lấn áp Vũ Trụ Giáo) có kinh là Việt Dịch Nòng Nọc, tức Dịch có âm dương đề huề (xin xem những tác phẩm đã in như Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, Tiếng Việt Huyền Diệu và đón đọc hai tác phẩm sẽ in Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc và Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).


Ở đây chỉ xin đưa ra một ví dụ điển hình để làm sáng tỏ phần cốt lõi hay bản sác của văn hóa Việt vừa nói, đó là đền Hùng Vương. Hiển nhiên đền thờ Tổ Hùng phải gói trọn bản sắc văn hóa Việt. Bát buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc. Như đã biết, theo truyền thuyết Tổ Hùng sinh ra từ một cái bọc. Bọc toàn con trai là bọc dương (Tổ Hùng “đẻ bọc điều”). Bọc mang dương tính ở cõi trời là bọc khí gió ứng với Đoài vũ trụ và bọc mang dương tính ở cõi thế gian là bọc nước ấm tức ao đầm ứng với Đoài thế gian. Hùng Vương thuộc dòng thần mặt trời Viêm Đế, là những vua mặt trời hừng rạng. Như thế Hùng Vương có hai khuôn mặt chính là Đoài vũ trụ tức Mặt Trời Sinh Tạo, Tạo Hóa (Sun as Creator) đội lốt Thần Mặt Trời Viêm Đế tương đương với Thần Mặt Trời Ra của Ai Cập cổ và một khuôn mặt thứ hai là Đoài thế gian. Đây là các vị vua Hùng Mặt Trời cai trị vùng đất ao đầm, ruộng nước. Đây có thể là các vị Hùng Vương của lịch sử Việt đội lốt truyền thuyết. Bọc hay Bầu Trứng Vũ Trụ được biểu tượng một cách dân dã là một quả bầu. Vì thế ở trên nóc lăng Hùng Vương thứ 6 tại đền Hùng, Vĩnh Phú, Bắc Việt có kiến trúc quả bầu . Truyền thuyết Mường Việt cổ nói rằng chúng ta sinh ra từ một quả bầu. Đây chính là bầu vũ trụ. Chúng ta là con của bầu Đại Vũ Trụ. Chúng ta là Man, Mán, Mường (có nghĩa là Người) là Tiểu Vũ Trụ (Người là Tiểu Vũ Trụ).


Bọc Trứng Vũ trụ được biểu tượng một cách bác học là một chiếc trống hình trứng giống như chiếc trống thùng (barrel drum. Trống đồng hình trừng để hở đáy là trống Trứng Vũ Trụ nòng nọc, âm dương (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Ở đền Hùng Vĩnh Phú có treo một chiếc trống đồng hở đáy có hình trứng như chiếc trống thùng. Trống này là trống đồng âm dương biểu tượng cho Trứng Vũ Trụ âm dương, biểu tượng cho Tổ Hùng lưỡng thể âm dương, lửa, nước (trăm Lang chia ra 50 người theo Mẹ lên núi thuộc dòng Lửa và 50 Lang theo Cha xuống biển thuộc dòng nước). Chiếc mũ của anh Nguyễn Thế Phong đội trong buổi tế Tổ Hùng phía sau có hình Trứng Vũ Trụ (đĩa thái cực) rất chí lí, biểu tượng cho Tổ Hùng Tạo Hóa. Trứng Vũ Trụ phân cực tách ra lưỡng cực âm dương, nòng nọc giống như bọc trứng trăm Lang Hùng chia ra làm hai, một nửa theo Mẹ, một nửa theo Cha. Vì vậy trong đền Hùng mọi thứ đều phải có từng cặp mang ý nghĩa biểu tượng nòng nọc, âm dương, biểu tượng cho hai ngành Mẹ Lửa, Cha Nước. Hãy lấy một vài ví dụ về lưỡng thể, nòng nọc này thấy trong đền Hùng. Bên tay phải tức phía dương thường có trốmg và bên tay trái phía âm thường để cồng (cồng biểu tượng cho âm: “lệnh ông không bằng cồng bà”). Hai chiếc lọng: một chiếc dẹp hình đĩa tròn mầu đỏ hay cam biểu tượng cho ngành Nọc mặt trời Lửa và một chiếc hình ống (nang), có tua dài biểu tượng cho ngành Nòng mặt trời Nước. Hai lá cờ: một lá cờ đuôi nheo có hình tam giác, hình răng sói, răng cưa /\, theo duy dương biểu tượng cho ngành Nọc, Lửa (Âu Cơ), theo duy âm là hình chữ V, âm thái dương (nước dương Lạc Long Quân) và một lá cờ hình vuông. Hình vuông là dạng thái dương của hình vòng tròn (ví dụ rõ nhất hình vuông là dạng dương của nòng vòng tròn là hình linga-yoni của Ấn giáo có hình dương vật linga hình Nọc cắm trên đế yoni, âm vật, bộ phận sinh dục nữ tức Nòng có hình vuông). Theo duy dương cờ biểu tượng cho Lạc Long Quân âm nam, mặt trời nước thái , theo duy âm là đất thái dương, ruộng đồng nước ầm ao đầm, cờ vuông biểu tượng cho Âu Cơ. Hai lá cờ này phải treo cân xứng hai bên bàn thờ hay bất cứ ở đâu…


Âm dương nòng nọc liên tác sinh ra Tứ Tượng tức Bốn Nguyên Sinh Động Lực chính yếu (Four Great Primeval Forces), bốn nguyên thể của Lửa, Đất, Nước, Gió. Tượng Lửa vũ trụ (Càn) theo người Việt chúng ta có biểu tượng ở cõi Tạo Hóa, Vũ Trụ là con chim Cắt (chim Rìu, chim Việt), ở cõi trời thế gian là con chim trĩ (đôi khi dân gian chọn con gà như thấy trong Bàn Bầu Cua, trĩ và gà cùng một họ với nhau), theo người Trung Hoa là con chim Phượng. Tượng Đất dương thế gian (Li) có thú biểu là con hươu sừng , con Cọc (kì mang), thần thoại hóa thành con Nghê (theo Trung Hoa là con Li, Kì Lân). Tượng Nước dương (Chấn) có vật biểu là con cá chép, thần thoại hóa thành con thuồng luồng, rồng nước (theo Trung Hoa là con Long). Tượng Gió dương (Đoài vũ trụ) có biểu tượng là con ba ba (đôi khi dân gian chọn con cua như thấy trong Bàn Bầu Cua), thần thoại hóa thành con rùa thần (theo Trung Hoa là con rùa Qui). Ở đền Hùng, Tứ Tượng với bốn vật tổ tương ứng này còn là biểu tượng sinh tạo, tạo hóa của bốn Tổ Phụ Mặt Trời Rạng Ngời của chúng ta là Đế Minh ứng với Mặt Trời Lửa tạo hóa Càn (theo truyền thuyết, Đế Minh là cháu ba đời Thần Mặt Trời Viêm Đế), có chim biểu là chim trĩ, có lãnh thổ ứng với châu Dương; Kinh Dương Vương hay Kì Dương Vương ứng với Mặt Trời Lửa thế gian, núi Trụ thế gian Li, có thú biểu là con Hươu Đực (Kì Dương Vương có tên mẹ đẻ là Lộc Tục có nghĩa là con Hươu Đực, Kì Mang, “thú có sừng” hay Hươu Mặt Trời), có lãnh thổ ứng với châu Kì; Lạc Long Quân ứng Mặt Trời Nước dương Chấn, có vật biểu là Cá Chép, có lãnh thổ ứng với châu Hoan và Hùng Vương vũ trụ, Tạo Hóa ứng với Mặt Trời Gió dương, Mặt Trời Tạo Hóa Đoài Vũ Trụ, có vật biểu là con Rùa Ba Ba, con Sói Lang trời, có lãnh thổ ứng với Châu Phong (Hùng Vương thế gian hay lịch sử ứng với Đoài thế gian, ao đầm có thủ đô là Việt Trì, Ao Việt). Vì thế trong đền Hùng Vương ta thường thấy bốn vật biểu này ứng với Tứ Tượng, với bốn khuôn mặt sinh tạo của Bốn Tổ Phụ Mặt Trời Rạng Ngời của chúng ta. Cũng cần nói thêm là ở đền Hùng ở Vĩnh Phú có thờ Lửa, một biểu tượng của dòng Lửa, Mặt Trời.
Tứ Tượng âm và dương hôn phối tạo thành bát quái. Trong đền Tổ Hùng thường có các vật mang tên là “bát bảo” biểu tượng cho tám quái này. Ở đền Hùng tại Sunshine này, tôi thấy có một giá trưng bầy tám thứ khí giới thờ ứng với tám quái. Tứ Tượng dương và âm, tám quái liên tác sinh ra vũ trụ trới đất, muôn sinh, muôn loài, sự sống và được chia ra làm Ba Cõi, Tam Thế : Cõi Trên (Tạo Hóa, Cõi Trời), Cõi Giữa (Đất Thế Gian) và Cõi Dưới (Âm Thế). Ba Cõi thông thương với nhau bằng một Trục Thế Giới. Vì thế bàn thờ tổ Hùng cũng chia ra làm ba phần, ba tầng ứng với Ba Cõi. Vì thế cấu trúc bên ngoài của đền Hùng phải mang biểu tượng Tam Thế (ngày xưa làm theo kiểu nhà sàn). Cấu trúc của đền Hùng ở Vĩnh Phú chia ra làm ba phần: Đền Thượng ứng với Cõi Trên, Đền Trung ứng với Cõi Giữa và Đền Hạ ứng với Cõi Dưới…


Ba Cõi và Trục Thế Giới được biểu tượng bằng một cái cậy gọi là Cây Vũ Trụ (Cosmic Tree) hay Cây Đời (Tree of Life) hay Cây Tam Thế. Vì thế trong đền Hùng thường có một vật thờ mang hình ảnh Cây Vũ Trụ. Tại đền thờ Hùng ở Sunshine này có một vật thờ là chiếc trống đồng Đông Sơn tân tạo loại Nguyễn Xuân Quang VI (tức Heger I) có hình Cây Nấm Vũ Tru (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Một điểm lý thú là trống này có mặt trời 10 tia sáng hình nọc răng sói là trống biểu của tộc Mặt Trời Kì Dương Vương, vua tổ thế gian đầu tiên của chúng ta, của nước Việt đầu tiên là nước Người Mặt Trời Xích Quỉ, của Họ Hồng Bàng thế gian (theo Dịch số 10 là Khảm thế gian hôn phối với Li thế gian). Bên ngoài đền Hùng (hay đình, chùa) thường trồng một cây đa, là biểu tượng của Cây Vũ Trụ, Cây Đời…


Tóm lại cốt lõi của nền văn hóa Việt Nam là Vũ Trụ Giáo, về thời phụ quyền là Mặt Trời Giáo có kinh là Việt Dịch Nòng Nọc.


Hiểu như thế rồi, chúng ta hãy tìm bản sác văn hóa Việt qua ngôn ngữ Việt. Ngôn ngữ là một trong những khuôn mặt chính phản ánh bản sắc văn hóa của một dân tộc. Do đó ngôn ngữ Việt cũng phản ánh cốt lõi hay bản sắc văn hóa Việt. Nói một cách khác ngôn ngữ Việt phản ánh Việt Dịch nòng nọc.



NGÔN NGỮ VIỆT và DỊCH LÝ.


Như đã thấy Vũ Trụ Giáo có “kinh” là Dịch (kinh Dịch) dựa trên âm dương. Vũ Trụ tạo sinh khởi đầu là vô cực (vô thể) rồi đến thái cực (nhất thể), lưỡng nghi (lưỡng thể), tứ tượng (tứ thể), tam thế. Như thế ta sẽ lần lượt nghiên cứu tiếng Việt theo những bước đi như sau đây:


-Tính chất nhất thể trong ngôn ngữ Việt.


-Tính chất lưỡng thể, âm dương trong ngôn ngữ Việt.


-Tính chất tứ thể trong ngôn ngữ Việt


-Dịch trong ngôn ngữ Việt.


TRUNG TÍNH VÀ NHẤT THỂ TÍNH hay LƯỠNG THỂ HỢP NHẤT TRONG TIẾNG VIỆT.


Trong Anh ngữ có từ trung tính “it, its”. Tiếng Việt cũng có hiện tượng trung tính nhưng Việt ngữ khác hơn các ngôn ngữ khác là một từ có thể trung tính và có thể có cả hai giống phái đực và cái, tôi gọi là từ trung tính và nhất thể tính hay lưỡng thể hợp nhất . Xin đưa ra vài ba ví dụ:


1. Nang


Nang với nghĩa là bọc mang nghĩa trung tính ứng với bọc hư vô. Nang với nghĩa là trứng sinh tạo có âm dương, có hai tròng biểu tượng hai giống phái ứng với thái cực. Tròng đỏ hay nhân là dương, tròng trắng là âm. Theo duy âm nang là cái bọc âm, bọc nước (cyst), trứng âm (noãn nang), nang là cái bọc, cái túi biểu tượng bộ phận sinh dục nữ. Nang là nương, nường (cô gái, nường cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ như thấy qua từ đôi “nõ nường”), là nàng. Theo duy dương, nang là lang là chàng. L là dạng dương hóa của N (Tiếng Việt Huyền Diệu).


2. Hắn


Với nghĩa trung tính chỉ loài vật, với nghĩa dương tính thường chỉ phái nam (thằng đó, hắn chưa chịu lấy vợ), ở Huế hắn còn chỉ phái nữ (con nớ, hắn chưa chịu lấy chồng).


3. Ke


Trong từ điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ “ke, chỉ bộ phận sinh dục đàn ông hay đàn bà”. Như thế “ke” có hai giống đực và cái.


4. Làng


Từ làng có thể là do hai từ lang và nàng lồng vào nhau [làng = l(ang) + (n)àng]. Theo duy âm, nhà làng có thể hiểu là nhà nàng, theo duy dương nhà làng là nhà lang (bachelors house) (xem thêm chi tiết ở dưới).


Dạng vô thể hay trung tính và lưỡng thể hợp nhất của một từ ứng với Hư vô, Thái cực.


LƯỠNG TÍNH ÂM DƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT.


Âm dương hiểu theo tổng quát một cách giản dị là cái và đực nhưng hiểu theo Dịch lý, âm dương phức tạp hơn. Âm dương ngoài nghĩa cái đực còn là tĩnh động, trăng trời, đen trắng… Âm có âm của âm là thái âm hay thuần âm và dương của âm là thiếu âm. Dương có dương của dương là thái dương hay thuần dương và âm của dương là thiếu dương. Vì thế âm dương trong tiếng Việt phải được nhìn theo Việt Dịch Nòng Nọc, âm dương đề huề. Ta phải xét âm dương trong Việt ngữ qua diện cái đực, tĩnh động, dạng biến dịch theo Dịch tính…


GIỐNG ĐỰC GIỐNG CÁI TRONG VIỆT NGỮ


Học ngôn ngữ ngoại quốc ta thấy có hiện tượng giống đực giống cái trong ngữ pháp. Giống đực giống cái trong ngôn ngữ có thể biểu hiện ra dưới nhiều dạng thức. Dạng thứ nhất giống đực giống cái hiện ra dưới dạng thức thay đổi âm đọc tức thay đổi dạng ngữ của một danh từ, ví dụ như trong tiếng Tây Ban Nha: amigo là bạn trai, amiga là bạn gái; niđo là con trai, còn niđa là con gái (niđa niđo liên hệ với nhi nha nhi nhô của Việt ngữ). . . Dạng thứ hai dưới dạng thức phụ từ chỉ thị giống phái như trong Pháp ngữ có mạo từ (article) “le” chỉ giống đực như “le chateau” là lâu đài và “la” chỉ giống cái như “la maison” là nhà. Dạng thứ ba trong Anh ngữ không thấy có biến âm, biến dạng ngữ, không có mạo từ chỉ rõ giống đực và giống cái, hầu hết các từ là giống đực, chỉ có một số rất ít từ có giống cái. Rất khó mà biết được một từ Anh ngữ có giống cái. Phải “học thuộc lòng” những từ giống cái này ví dụ tên nước Mỹ, tên xứ, vùng đất, tàu thuyền… Câu hỏi được nêu ra có hiện tượng giống phái trong tiếng Việt không? Câu trả lời là có.


1. Dạng thức thay đổi âm hay dạng ngữ của danh từ:


a. Thay đổi theo mẫu tự để chỉ cái đực:


-Theo n/l để chỉ đực cái


Ví dụ: nang/lang


Việt ngữ nang với nghĩa trứng hàm ý sinh tạo có âm và dương. Theo duy âm, nang là cái bọc nước (cyst), cái trứng (follicle), nang biến âm thành nương, nường, nàng chỉ con gái chưa chồng, phái nữ. Theo duy dương, nang biến âm thành lang chỉ con trai chưa vợ, chàng (âm có trước dương, mẫu hệ có trước phụ hệ). Đây rõ là hiện tượng biến âm biến dạng chữ của danh từ theo n/l để chỉ giống đực, giống cái. Ngày nay ta có từ “nhà làng” chỉ chung căn nhà thiêng liêng của một làng. Nguyên thủy, xã hội con người theo mẫu hệ thì ngôi nhà làng có giống cái tức là “nhà nàng”. Chỗ ở, làng, nước phát xuất từ một bờ nước vì thế nguyên thủy chỗ ở bên bờ nước gọi là nàng biến âm của gốc na- là nước. Ai Cập ngữ nag là làng, thay g=c, nag = nác, nước và biến âm với nahar là sông. Rõ ràng nàng là môt bờ na-, bến nác, bờ nước. Đến thời phụ quyền, nhà làng có giống đực tức là “nhà lang”. Điều này thấy rất rõ là người Mường ngày nay gọi nhà làng là nhà lang (bachelors house) và chúng ta gọi là nhà “đình”. Từ đình biến âm với “đinh” có một nghĩa là con trai chưa vợ như “tráng đinh” “lễ thành đinh”. Nhà đình là nhà đinh, chính là nhà lang (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002). Như thế nhà làng phải hiểu theo hai giống cái và giống đực, phải hiểu theo “nàng” và “lang”. Có thể coi là hai từ “lang” và “nàng “ chặt bỏ đuôi, bỏ đầu lồng vào nhau (coinage) thành từ làng: làng = l(ang) + (n)àng. Nàng cái, lang đực là một “địa khai ngôn ngữ” (language fossil) cho ta thấy âm N ở một diện nào đó là một âm cổ có mang âm tính (yin) và âm L là âm nam hóa có dương tính (yang) của âm N.


-Theo d/đ để chỉ cái đực:


Ví du: da/đa


Cây Đời, Cây vũ trụ miền Bắc gọi là cây đa, Trung Nam gọi là cây da. Đa có nghĩa là lửa, mặt trời. Các tổ phụ, dòng dõi mặt trời Mường Việt cổ gọi là đa, đá như Đa Cần, Đá Cần, Đá Cài, bánh đa là bánh mặt trời, gò đống Đa là gò Đống Lửa, Đống Mặt trời (trong khi Đống Lã là “Đống Nước”)… Ai Cập ngữ Ra (biến âm với da, đa) là thần mặt trời sinh tạo, đấng tạo hóa; Ả Rập nữ zalgb, to burn (đốt cháy); Do Thái ngữ zaalg aap-aa, raging heat, nóng phát cuồng; Thái ngữ daed, nắng, trời, daeng, đỏ (daeng mo: dưa đỏ, dưa hấu); Anh, Pháp Mỹ date, ngày, Anh ngữ day, ngày, một ngày là một mặt trời; Phạn ngữ "dagh" , “dah”, “dac-““das”là thắp sáng, đốt, liên hệ với lửa, mặt trời, raja trời (sky) . . . Cây đa là cây mặt trời, cây trụ trời, Cây Vũ Trụ , Cây Đời mang dương tính của ngành Nọc. Da là cái túi bao bọc thân người. Thái Lan ngữ gọi da là "nang" (Việt ngữ nang là túi, bọc). Hán Việt bì là da. Bì có một nghĩa là bao bọc ví dụ cân trừ bì là cân trừ bao, trừ bọc. Ta có từ ghép điệp ngữ “bầu bì” nghĩa là bầu = bì. Bì là bầu có nghĩa đen là bào, bao bọc. Vũ trụ hư không là một cái bọc, cái túi, cái trứng vì thế mà chúng ta cũng dùng từ da cho bầu trời ví dụ như màu xanh da trời. Cây Vũ Trụ da là cây "nang", cây nông là cây bầu hư không, bọc vũ trụ thuộc ngành Nòng (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt, 2002). Rõ như ban ngày đa và da là cây mặt trời-cây không gian, là dạng nọc nòng, dương âm theo dạng biến âm, biến dạng ngữ.


- Theo b/m để chỉ đực cái


.má, mạ >< ba.


.mợ >< bố


.mụ >< bõ (mụ là người già như u già lo việc nhà; bõ là người già lo việc nhà gọi là bõ già).


b. Thay đổi theo âm từ để chỉ cái đực:


Ví dụ: non/nổng


Ngoài hai từ núi và non ngày nay chúng ta thường dùng, tiếng Việt cổ còn có từ “nổng”chỉ núi có hình nống. Từ cổ Việt nống là cái cọc nhọn, cái cọc chống đỡ ví dụ như câu nói “cứ nống nó lên” có nghĩa là cứ chống cho nó lên cao, cứ tâng bốc nó lên. Nổng là núi trụ chống trời, núi có đỉnh nhọn. Nổng biến âm với nống, cọc nhọn là núi nọc, núi dương. Nổng cũng biến âm với đống, gò đất cao như núi, ụ đất cao chôn người chết. Trong khi từ “non” biến âm với nòn, nòng là núi tròn đầu như cái nón là núi nòng, núi âm. Non là núi âm thường đi chung với nước (âm, cái) thành từ ghép “non nước” hay “nước non”, chúng ta không nói “núi nước” hay “nước núi”, “nổng nước” hay “nước nổng”. Ba Thục ngữ non là núi (Bình Nguyên Lộc, NGMLCDTVN, tr.626). Ba Thục thuộc Tầy Thái, dòng ngoại, dòng nước, dòng nòng, dòng âm, dòng Mặt Trời Êm Dịu An Dương Vương. Hiển nhiên non có giống cái. Như thế núi là từ chỉ chung, còn núi dương, núi đực là “nổng” và núi âm, núi cái là “non”. Ngày nay từ nổng đã là một từ cổ nghĩa là đã lui vào bòng tối, ít còn dùng. Trong khi đó từ núi thay thế vừa chỉ chung chỗ đất cao vừa chỉ núi dương giống như từ “man” của Anh ngữ vừa chỉ chung con người vừa chỉ đàn ông, phái nam.
Non và nổng là dạng nòng nọc, cái đực, âm dương theo dạng biến âm của từ.


c. Thay đổi theo qui luật biến âm để chỉ cái đực:


-ví dụ: kẻ/ kẽ, que/khe


Như đã thấy ở trên, trong từ điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ “ke, bộ phận sinh dục của đàn ông hay đàn bà”. Như thế “ke” có giống đực và cái. Ta thấy theo duy dương, ke biến âm với kẻ, kè, que chỉ nọc, cọc biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam (xem Gốc Chữ Trong Tiếng Việt trong Tiếng Việt Huyền Diệu). Từ ke, theo duy âm, biến âm với “kẽ”, “khe”, “ghe” chỉ bộ phận sinh dục nữ. Ta thấy rõ từ kẻ/kẽ, que/ khe có hai giống khác nhau chỉ là một dạng biến âm với nhau qua từ gốc ke.


-cối/chầy


Cối biểu tượng cho cái, bộ phận sinh dục nữ. Cối biến âm với cái. Ta có từ ghép điệp nghĩa cây cối tức cây = cối. Ngày xưa cối là một khúc cây khoét rỗng tức cây cái. Từ chầy với h câm, ta có chầy = cầy, cây. Chầy là một khúc cây mang dương tính tức cây đực. Rõ ràng cối/chầy là hai từ cái đực qua dạng biến âm của từ cây.


2. Dạng thức đực cái dưới hình thức những danh từ biệt lập của cùng một loài, một thứ, một vật.


Giống đực giống cái trong Việt ngữ cũng thấy dưới dạng hai từ chỉ đực, cái Riêng rẽ (không phải là dạng biến âm của một từ) của một loài, một thứ giống như các ngoại ngữ khác ví dụ Anh ngữ “hart”, hươu đực, “doe”, nai cái, Pháp ngữ “bouc” dê đực, “chèvre”, dê cái… Trong Việt ngữ cũng có dạng này, ví dụ:


-Hươu/nai


Hươu và nai ngày nay được dùng chung, nhiều khi coi như tương đương nhau, coi như là một. Người Bắc dùng từ hươu nhiều, trong khi Trung Nam dùng từ nai nhiều. Tuy nhiên hươu/nai có giống phái khác nhau. Như đã viết trong bài Gốc Chữ (Tiếng Việt Huyền Diệu) hươu, hiêu, hưu biến âm với”hèo (roi, vọt, nọc), với Mường ngữ “hẻo” (húc bằng sừng) là con cọc, con nọc là con đực. Hươu chỉ con đực. Từ nai biến âm với nái (con cái đẻ con) như heo nái, nái xề, với nạ (đàn bà có con) như nạ dòng, với ná (mẹ) như áng ná (cha mẹ)… Từ nai chỉ con cái. Hai từ hươu-nai, đực cái này là một địa khai ngôn ngữ quí hơn vàng về mặt truyền thuyết và cổ sử. Hai từ hươu/nai chỉ con đực và con cái của loài thú này giúp ta nhận dạng ra được hai linh vật kì lân. Kì lân là từ Hán Việt. Cổ thư Trung Hoa có ghi Kì là con đực, Lân là con cái. Như đã biết “kì” biến âm với “kẻ” là nọc, đực, là con thú có nọc, có sừng tức con hươu. Kì Dương Vương vua tổ của chúng ta có Kì là con hươu đực, vì vậy mới có nhũ danh là Lộc Tục, Hươu Đực (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Kì chính là linh vật có cốt (host) là con hươu sủa (barking deer) hay mang gạc (muntjac) có sừng hai mấu nhọn. Việt ngữ con kì gọi là con nghê. Theo biến âm ngh=k như nghẹt = kẹt, ta có nghê = kê, kẻ. Từ Lân là từ Hán Việt, áp dụng qui tắc chuyển từ Việt ngữ qua Hán ngữ theo N/L ta tìm ra từ cổ Việt tương ứng với lân là “nân”. Nân biến âm với nang, nòng, nàng, nái là âm, cái. Nái biến âm với “nai”. Như thế con lân là con thú cái, là con nái, con nai (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Linh vật kì và lân có cốt là hươu và nai.


-Non/Nổng


Như trên đã nói núi âm, núi cái là non, núi dương, núi đực là nổng.


-Cồng/Trống


Cồng hay gồng và trống đều là những nhạc cụ thuộc về bộ gõ. Tuy nhiên cồng và trống có giống phái khác nhau. Cồng biến âm còng, cái vòng tròn đeo cổ tay, với kiềng, vòng đeo cổ. Cồng, còng biến âm với nòng (vòng tròn) (theo c=n như cậy = nậy, ta có còng = nòng). Như thế cồng, gồng là một thứ nhạc cụ bộ gõ có hình đĩa tròn mang âm tính thuộc dòng nòng. Cũng vì thế mới có câu “lệnh ông không bằng cồng bà”. Bà Triệu Ẩu là phái nữ nên đánh cồng chứ không đánh trống : “Muốn coi lên núi mà coi, “Coi bà Triệu Ẩu cưỡi voi đánh cồng”.


-Cây/Cối

Cây cối là từ ghép kết hợp điệp nghĩa, cối là cây, Mường ngữ “coi”, cơi” là loại cây nhỏ, mềm, dễ gẫy:


Có súng bằng cây nứa,


Có giáo bằng cây cơi.


(Trương Sỹ Hùng, t. I, tr.805)


Giáo sư Trần Ngọc Ninh cũng đã rất đúng khi cho rằng “cối là cây con” (Tuyết Xưa). Cối biến âm với củi (cây khô để đốt) chính là cổ ngữ Nhật kuy, ko và hiện kim ki, cây. Theo tôi cối là cây nhỏ, mềm, cây con là loại cây có giống cái và cũng vì cối còn có nghĩa là cái cối như trên. Như thế cây biến âm với chầy là cây đực, cây có dương tính và cối là cây cái, có âm tính cùng âm với cối (mortar), một biểu tượng của bộ phận sinh dục nữ.


3. Dạng thức đực cái theo bản thể:


Đây chính là dạng được cho là do “thói quen” hay “tự nó như vậy” thấy trong các ngôn ngữ khác như trong Anh Pháp chẳng hạn. Hồi nhỏ, khi học Pháp ngữ, tôi thắc mắc hỏi thầy giáo tại sao cái nhà “maison” lại có giống cái, phải viết là “la maison” mà không là giống đực. Thầy giáo trả lời đó là do “thói quen” hay “tự nó như vậy”, phải học thuộc lòng. Thật ra dạng giống phái này nhiều khi liên hệ với nguồn cội nguyên thủy của mỗi từ. Cái nhà có giống cái bắt nguồn tứ căn cội của nó. Nhà nguyên thủy là một cái hang một cái lỗ như câu nói “ăn lông ở lỗ”. Hang, lỗ biểu tượng cho cái giống phái nữ, hang có giống cái, Pháp ngữ “la cave”, hang, vì thế mà nhà thừa hưởng di tính của mẹ hang nên có giống cái. Trong khi những nhà có nóc nhọn hay có những trang trí bằng những kiến trúc dương hình nhọn là những nhà đực, ví dụ lâu đài trong tiếng Pháp có giống đực và nói là “le chateau”).


Đất đai có tính cách nuôi dưỡng con người giống như mẹ nuôi dưỡng con thường có giống cái, đều là “đất mẹ”. Trong Việt ngữ đất nuôi dưỡng đều có nghĩa là “mẹ” tức có giống cái ví dụ từ “đồng” (field) đã đề cập ở trên có nghĩa là mẹ, liên hệ với cổ ngữ Mã-Nam Dương “indong”, mẹ. Nương là ruộng trên đồi cao hay giữa hai khe núi có nghĩa là nương, là nường, là nàng; nà là ruộng nước biến âm với ná là mẹ, với nạ, mẹ, người đàn bà nhiều con như nạ dòng, với nái như nái xề… Điểm này cũng thấy rõ trong ngôn ngữ Nhật. Theo Bình Nguyên Lộc “Dân chúng (Nhật) chỉ biết hara là cái bụng và đồng bằng” (LTVN, tr.249). “Cái bụng phải hiểu là dạ, là mẹ, “đồng” (“bằng”) hara của Nhật cũng có nghĩa là mẹ. Về truyền thống văn hóa, Nhật và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng (Nguyễ Xuân Quang, 1999).


Giống phái cũng liên hệ tới âm dương, tới Dịch như những từ liên hệ tới tượng nước thái âm, có giống cái. Ví dụ tên một quốc gia vốn được thành hình từ một bờ nước, một dòng sông (xem Gốc Chữ Trong Việt Ngữ, Tiếng Việt Huyền Diệu) nên có giống cái ví dụ tên Việt Nam phải có giống cái như ta thường nói mẹ Việt Nam, nước Việt Nam, nước Pháp gọi là “la France”, nước Mỹ phải dùng đại danh từ “she” hay “her”; tàu thuyền liên hệ tới nước nên có giống cái: Việt ngữ ghe có một nghĩa là bộ phận sinh dục nữ, Anh ngữ “ship” có giống cái…


4. Dạng Phụ Từ Chỉ Giống Phái:


Các phụ từ như các mạo từ ví dụ trong Pháp ngữ có “le” “la” cho biết giống phái của danh từ. Việt ngữ có hai phụ từ “con” và “cái” dùng như loại từ (classifiers), ở một diện giới hạn nào đó, cũng dùng để chỉ giống phái đực cái. Từ cái thường đứng trước một danh từ có giống cái như các từ chỉ bộ phận sinh dục nữ (chắc chắn là phải có giống cái, âm, Hán Việt gọi là âm vật) như cái “ấy”… hay các từ biết rõ có giống cái như cái cối (cối biểu tượng cho bộ phận sinh dụ nữ). Khi từ cái đứng trước một từ chỉ chung cùng một loài, một thứ thường cho biết cá thể của loài đó, thứ đó có giống cái, sau đây là một vài ví dụ điển hình nhất thấy trong ca dao:


Cái cò lặn lội bờ ao,


Phất phơ hai dải yếm đào gió bay.


Hiển nhiên “cái cò” với “Phất phơ hai dải yếm đào gió bay” là cò cái.


hay

Cái cò, cái vạc, cái nông,


Sao mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò?


Không, không, tôi đứng trên bờ,


Mẹ con nhà nó đổ ngờ cho tôi,


Chẳng tin thì ông đi đôi,


Mẹ con nhà nó còn ngồi đây kia”.


Với phụ từ “cái” đứng trước nên ta biết rõ “cái cò”, “cái vạc”, “cái nông” là những cò cái, vạc cái và nông cái. Bằng chứng hùng hồn là cụm từ “mẹ con nhà nó” xác quyết chúng là những chim cái.


Hay


Cái cò mà đi ăn đêm,


Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao,


Ông ơi, ông vớt tôi vào,


Tôi có lòng nào, thì hãy xáo măng,


Có xáo thì xáo nước trong,


Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.


Cụm từ “đau lòng cò con” xác quyết cái cò là con cò cái. Bình thường cò chỉ đi kiếm ăn ban ngày (chỉ loài vạc mới đi ăn đêm), vì đàn con đói nên cò mẹ đã phải đi “ăn đêm” cho nên mới “Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao”.


HayCái cò lặn lội bờ ao,


Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non…


Trong những câu ca dao này phải viết là CÁI cò mời đúng ngữ pháp còn viết là CON cò là sai ngữ pháp hay chỉ đúng một nửa mà thôi, vì CON nếu hiểu theo nghĩa động vật, mới nghe qua cũng tạm được nhưng xét kỹ lại nếu CON với nghĩa chỉ động vật thì động vật có con đực, con cái. Nếu là con đực thì làm sao lại có “hai dải yếm đào gió bay”… Từ CON chỉ động vật chỉ đúng khi đông vật là con cò cái, nghĩa là chỉ đúng có một nửa mà thôi.


Rõ hơn ta thấy phụ từ cái đi với phái nữ như thấy trong câu hát:


Thằng cu vỗ chài,


Bắt trai bỏ giỏ.


Cái đỏ ẵm em,


Đi xem đánh cá…


Cái đỏ chỉ con gái đối ứng với thằng cu. “Cái” đối ứng với “thằng”.


Hoặc


Cái bống mặc xống ngang chân,


Lấy chồng kẻ chợ cho gần xem Voi…


(ca dao).


Trong khi đó phụ từ con chỉ chung cả loài (cả đực lẫn cái) vì ở thời phụ quyền loài đực thường được dùng làm đại diện cho cả loài và cũng dùng để chỉ con đực (giống như từ núi và “man” của Anh ngữ như đã biết vừa là từ chỉ chung con người và vừa là từ chỉ đàn ông), ví dụ con cò, con vạc, con nông chỉ chung cả loài cò, vạc, nông hay chỉ các con đực. Phụ từ con thường đi với những từ có giống đực ví dụ như đi với các từ chỉ bộ phận sinh dục nam như con cu, con c…c, con b…, con “chim”…


Tóm lại phụ từ cái và con trong một phạm vi giới hạn dùng chỉ thị giống cái giống đực của một từ.


Ngoài ra, thường thường, trong Việt ngữ chúng ta thường gặp, thường thấy nhất là thể dùng một loại từ đi trước hay sau một danh từ để chỉ giống phái như trống, mái, đực, cái (gà trống, gà mái, chó đực, chó cái…), anh, chị, nàng, chàng, ông, bà…


TĨNH và ĐỘNG TRONG VIỆT NGỮ


Lưỡng tính âm dương trong một phạm vi giới hạn thấy qua tính cái và đực nhưng tính âm dương trong tiếng Việt còn thấy rõ hơn qua dạng tĩnh và động.


Xin hãy trở lại với hai phụ từ “cái và con”.


. Phụ từ Cái và Con chỉ Tĩnh Động.


Phụ từ cái thường đi với các từ mang tính tĩnh (không cử động), thường dùng để chỉ các tĩnh vật như cái nhà, cái hang, cái nồi… Phụ từ con chỉ tính động, đi với những từ hàm nghĩa cử động, chuyển động thường dùng để chỉ động vật như con chó, con dế, con người… và chỉ các vật cử động được như con mắt, con ngươi (co nhỏ, nở lớn được), con nước (nước chuyển động lên, xuống), con trăng (trăng di chuyển, thay đổi hình dạng và liên hệ với con nước), con tim, con thoi, con đội, con cúi, con vụ, con quay, con thò lò, con ráy (ráy tai lấy hết lại đùn lên giống như một sinh vật và vì vậy mà ráy tai còn gọi là cứt ráy), con trê (lòi dom, dom lòi ra thụt vào được), con dao (dao được coi như một sinh vật có lưỡi dao, mũi dao, đuôi dao, sống dao. Dao hay gươm thiêng được coi như một linh vật, được thờ và nuôi bằng rượu, bằng máu, bằng gạo. Dao cũng có dao đực, dao cái, dao đực gọi là dao rựa. Từ rựa là biến âm của Mường ngữ đứa có nghĩa là con trai, đực…


Ngoài ra các vật liên hệ với chuyển động cũng dùng phụ từ con như con đường, con hẻm, con sào (có một nghĩa liên hệ với việc dùng sào để đẩy thuyền).


Như thế về mặt giống phái hai khuôn mặt nổi bật của hai phụ từ cái và con là Tĩnh và Động. Theo Dịch lý tĩnh là âm, động là dương.


.Phụ Từ Cái và Con chỉ Tính Biến Dịch của Dịch Lý:


Dịch là chuyển dịch, biến dịch, xê dịch… nên động có thể biến thành tĩnh và ngược lại, dương có thể biến thành âm và ngược lại. Hai phụ từ cái và con cũng được dùng chuyển biến theo Dịch. Cùng một vật, khi vật đó đi với phụ từ cái cho biết vật đó đang ở trạng thái tĩnh nhưng khi vật đó ở trạng thái động thì phải dùng phụ từ con. Ví dụ:


-Nước ở trạng thái tĩnh như ở trong ao, hồ, chuôm thì gọi là cái ao, cái hồ, cái chuôm. Nhưng khi nước ở trạng thái động, chuyển động như ở sông, suối, kênh, lạch… thì gọi là con sông, con suối, con kênh, con lạch.


-Mắt khi ở trạng thái động thì phải dùng phụ từ con như con mắt của động vật, con mắt bão (tâm bão), nhưng khi ở trạng thái tĩnh thì phải dùng phụ từ cái như “trơ cái mắt ếch ra” (mắt ếch thường bất động), “cái mắt lợn luộc”, cái mắt gỗ, cái mắt tre, cái mắt mía…


-Thuyền: thuyền (hay đò, tầu), khi ở trạng thái tĩnh, không chuyển động, thuyền đậu, thuyền tĩnh thì gọi là cái thuyền nhưng khi thuyền động, đang chuyển động trên dòng nước thì phải gọi là con thuyền.


-Cây sào khi ở dạng tĩnh gọi là cái sào, khi ở dạng động (biểu tượng cho dương vật hay dùng để đẩy thuyền bè) thì nói là con sào.


Cũng cần nói thêm là trường hợp nói “con thuyền trôi theo dòng nước” thì phải hiểu theo nghĩa động nghĩa là con thuyền có người chèo, có máy đẩy chuyển động trên dòng nước. Còn câu “cái thuyền trôi trên dòng nước” thì phải dùng để chỉ thuyền ở trạng thái tĩnh không người chèo lái, không có máy mà bị nước cuốn trôi đi, ở trạng thái thụ động.


Phụ từ Cái và Con biến dịch theo tính thịnh suy của âm dương.


Theo Dịch mọi thứ đều biến dịch, dương già hóa thành âm (đàn ông già hết tinh khí thành đàn bà), âm già hóa thành dương (đàn bà già hết trứng, không còn kinh nguyệt trở thành đàn ông). Dương thịnh thì âm suy và ngược lại như thấy diển tả trên đĩa thái cực.


Xã hội loài người chuyển từ mẫu hệ qua phụ hệ, ngôn ngữ cũng đổi theo từ âm qua dương. Vào thời phụ hệ như ngày nay, những ngôn từ chỉ âm, phái nữ cũng bị “xuống cấp”, coi khinh. Vì từ “cái” liên hệ với phái nữ, âm nên trong xã hội phụ quyền ngày nay trọng nam khinh nữ, phụ từ cái bị coi khinh nên thường được dùng với tính cách miệt thị, khinh thường ví dụ như kiến thường gọi là con nhưng khi dùng “cái kiến” (Cái kiến mày kiện củ khoai…) hàm ý nhỏ nhoi, hèn mọn, miệt thị, khinh rẻ. . . Đôi khi phụ từ cái với ý nghĩa miệt thị này cũng áp dụng cho cả giống đực và trung tính như “cái thằng đó”, “cái lão ấy”, “cái anh chàng ấy”, “cái ngữ ấy”, “cái thứ đó”…


Cũng vì lý do này, phụ từ cái thường đi với những câu văng tục, chửi thề, miệt thị (bình thường phải nói là con) như cái buồi tao đây này, cái cặc lõ của tao đây này, cái con cu của tao đây này (ta thấy rõ từ cái ở câu nói sau cùng dư thừa chỉ có ý nhấn mạnh để chửi thề).


Ngoài ra trong trường hợp văng tục nói cái c… hay cái b… thì có thể coi như là… “nói bậy bạ”, “vô giáo dục” (đã vô học, vô giáo dục thì dĩ nhiên nói sai ngữ pháp của tổ tiên).


TỨ THỂ TÍNH TRONG TIẾNG VIỆT


Căn bản của Dịch lý dựa trên âm dương lưỡng thể. Âm không phải chỉ là cái mà có thái âm (theo một diện có nghĩa là cái của âm) và thiếu âm (đực của âm). Dương không phải chỉ là đực mà có thái dương (đực của dương) và thiếu dương (cái của dương). Nói một cách dễ hiểu là âm có âm cái, âm đực và dương có dương đực, dương cái. Thái âm còn gọi là âm già (old yin) và thái dương là dương già (old yang). Già mang tính tĩnh. Thái âm và thái dương là âm dương dạng tĩnh. Thiếu âm còn gọi là âm non (young) và thiếu dương là dương non (young yang). Non mang tính động. Thiếu âm và thiếu dương là âm dương dạng động.


Bây giờ ta đối chiếu hai phụ từ con cái về phương diện giống phái theo nghĩa âm dương dựa trên Tứ Tượng hay tứ thể:


a. Thái âm, Thái dương


Theo Dịch, thuần âm hay thái âm (OO) và thuần dương hay thái dương (II) chỉ âm và dương thuần nhất. Hai khuôn mặt thái âm (OO) và thái dương (II) đọc xuôi đọc ngược theo hai chiều âm dương không thay đổi tính phái, âm vẫn là âm, dương vẫn là dương. Như đã nói thái âm thái dương là âm dương dạng tĩnh. Như thế những từ chỉ thuần âm hay thuần dương chỉ có một giống cái hay giống đực ở dạng tĩnh, bất biến. Nói một cách khác các từ thuần âm hay thuần dương chỉ đi với một từ cái hay một từ con duy nhất mà thôi, không có chuyển dịch khi thì đi với cái khi thì đi với con. Ví dụ hai từ ghe, nốc (ghe nhỏ) dùng nhiều ở miền Trung luôn luôn gọi là cái ghe, cái nốc, không bao giờ gọi là “con ghe” hay “con nốc” (không giống như từ thuyền, đò có khi nói là cái thuyền, cái đò, khi thi nói con thuyền, con đò) dù là đang đậu hay đang chuyển động. Tại sao? Xin thưa hai từ “ghe” và “nốc” là hai từ thuần âm chỉ có một giống cái bất biến vì là biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Hiển nhiên bộ phận sinh dục nữ không thể nào có giống đực được nên chỉ gọi là cái ghe hay cái nốc. Theo gh=k như ghé = ké, ghe biến âm với ke, kẽ, “khe” chỉ bộ phận sinh dục nữ. Nếu muốn chửi rủa ai thì đem biếu ba chén chè và hai quả cau. Ba chè nói lái lại là “ghe bà”. Cho ăn ba chè là cho ăn “ghe bà”. Hai quả cau biểu tượng hai trái “nang” (cổ ngữ Việt Mường nang là cau như mo nang; nang cũng có nghĩa là trứng) của phái nam. Nốc biến âm với đốc, đốc cũng chỉ thuyền. Đốc, nốc cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ. Mồng đốc (clitoris) chỉ cái mồng ở bộ phận sinh dục nữ. Nốc là tiếng cổ nam hóa thành “lốc”. Lốc, nốc chỉ bộ phận sinh dục nữ thấy qua câu ca dao:


“Cô lô cô lốc,


“Một nghìn ghính ốc đổ vào l… cô.


Ghe, nốc, đốc là hậu duệ của thuyền làm bằng cách khoét ra từ một thân cây tức thuyền độc mộc (dug-out). Nốc, lốc liên hệ vối Anh ngữ “nog” (cái chốt, cái then cài ngang bằng cây), “log” (khúc cây). Ghe, nốc trông có hình cái khe nên biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ.


Tương tự cối biểu cho âm, bộ phận sinh dục nữ chỉ nói là cái cối, bộ phận sinh dục nữ chỉ nói cái l… chứ không bao giờ nói con l… Bộ phận sinh dục nam nói con c… chứ không bao giờ nói cái c…


b. Thiếu âm, Thiếu dương


Thiếu âm (IO) và thiếu dương (OI) là hai tượng đều có âm (O) và dương (I). Dưới một góc nhìn của Dịch thiếu âm là dương của âm và thiếu dương là âm của dương. Âm dương dưới dạng này có thể biến dịch, chuyển dịch theo hai chiều âm dương. Đọc theo chiều dương từ trái qua phải tức ngược chiều kim đồng hồ, chiều mặt trời, ta có thiếu âm (IO), đọc ngược lại ta có thiếu dương (OI) và tương tự thiếu dương (OI) đọc ngược lại thành thiếu âm (IO). Hai khuôn mặt này hoán đổi được, trong khi thái âm (OO) và thái dương (II) đọc xuôi đọc ngược không thể hoán đổi với nhau được. Như thế như đã nói, thiếu âm và thiếu dương là âm dương ở dạng động. Mọi vật đều có âm dương (trong dương có âm, trong âm có dương) và khi thì ở trạng thái tĩnh khi thì ở trạng thái chuyển động. Rõ ràng như dưới ánh sáng mặt trời hai phụ từ cái và con chỉ thị tính tĩnh và động của cùng một từ là theo đúng âm dương của Dịch.


Như thế ta thấy hai phụ từ cái và con chỉ thị âm dương trọn vẹn của Dịch. Vì vậy phải hiểu phụ từ cái và con dưới nhiều dạng của âm dương. Ví dụ trong nhiều trường hợp từ con dùng đứng trước một từ giống cái như con gái, con nai (xin hiểu theo nghĩa hươu cái), con lân (nguyên thủy có nghĩa là linh vật cái) không phải là dùng sai. Từ con này không chỉ nghĩa đực ngược với cái mà chỉ thị động ngược với tĩnh. Từ con cho biết gái, nai, lân là loài động vật. Phải hiểu con ở đây theo nghĩa động ngược với tĩnh. Trường hợp bươm bướm là một động vật thường gọi là con bướm nhưng khi dùng làm biểu tượng cho phái nữ, bộ phận sinh dục nữ (dân dã thường ví bộ phận sinh dục nữ với bươm bướm) thì gọi là cái bướm như thấy qua câu nói “con ong cái bướm”. Tóm tắt lại ta thấy rất rõ trong nhiều trường hợp:


-hai phụ từ Cái và Con chỉ giống cái và giống đực. Cái và đực là một diện của âm dương.


-hai phụ từ Con và Cái chỉ động và tĩnh. Tĩnh và động là một diện của âm dương.


-hai phụ Từ Cái và Con chỉ Tính Biến Dịch của Dịch lý.


-hai từ Cái và Con chỉ tính tứ thể ứng với Tứ Tượng.


Hai phụ từ cái và con bao trọn nghĩa của Dịch, khi thì ở dạng cái đực theo âm dương lưỡng cực, khi thì ở dạng tứ tượng: thái dương hay thái âm tức âm dương thuần nhất và khi thì ở dạng vừa âm vừa dương biếnh tính như thiếu dương thiếu âm có cả âm dương. Như thế nhìn chung chung hai phụ từ Cái và Con là hai từ chỉ thị Âm Dương của Dịch lý. Hiển nhiên Việt ngữ liên hệ mật thiết với Dịch.


Dĩ nhiên cũng có những trường hợp lẻ tẻ hai phụ từ cái và con dùng bậy bạ lung tung bởi vì tiếng Việt ngày nay

Bài viết cùng chuyên mục

Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh Lê Viết Nga cho biết: Bắc Ninh vừa phát hiện tấm bia đá có niên đại từ năm 314 đến năm 450 tại thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh). Đây...

Chiều 7/9, Bảo tàng Hà Tĩnh, cho biết trong quá trình sưu tầm, khảo cứu các hiện vật lịch sử văn hóa trên địa bàn xã Xuân Đan, H.Nghi Xuân (Hà Tĩnh), nhóm nghiên cứu của bảo tàng này vừa phát hiện,...

Hãy xem từ cái Nôi khái niệm “Sông”:<br /><br />Krông = Kông = Sông = Tông 宗 = Dòng = Dõng 涌 = Giang 江 = Kang = Kênh = Kinh 泾= Linh 泠 = Lối = Lộ 潞 = Lạc 洛= Lạch = =Rạch = Mạch 脈 = Ngách = Ngòi =...

Tìm nguồn gốc dân tộc là khát vọng truyền đời của người dân Việt.

Lịch sử Bách Việt chứng tỏ không kém phần phong phú khi được hé lộ qua kỹ thuật đúc gươm, trống đồng...

<br /> Từ Hán Việt (HV) là kết quả rất tự nhiên sau bao nhiêu thế kỷ bị người Hán đô hộ cũng như sống bên cạnh nhau: đây là những từ gốc Hán thâm nhập vào và làm vốn từ Việt thêm phong phú.

Truyền thống lâu đời của chữ Hán đã cho ta nhiều thông tin thú vị về văn hoá tư tưởng của người xưa.

Cùng tồn tại với bãi đá cổ ở Sa Pa (Lào Cai), những hình khắc bí ẩn từ nghìn đời nay ở bãi đá cổ Xín Mần (Hà Giang) đã đi vào tín ngưỡng với tục thờ đá của người dân địa phương. Những hình khắc một...

Luật Pháp ( 09/03/2012)

Luật Pháp : Từ ghép này xuất xứ từ công nghệ Bánh Chưng, lúc đầu chỉ là để chỉ các công đoạn cụ thể, sau nâng ý trừu tượng hóa thành từ “luật pháp”. Khi gói xong bánh chưng thì dùng Lạt để Buộc....