Nhân tướng phú
La Kinh Thấu Giải
Hoa cảnh ứng dụng phong thủy
Tử vi đẩu số phú giải
Định mệnh có thật hay không?
Thứ ba, 20/05/08, 16:23:21 GMT+7

Định mệnh có thật hay không? - 20

Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương
Nhà xuất bản văn hóa thông tin

Dấu ấn Hà Đồ trong “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”.

Trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn đã ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành để lý giải các hiện tượng của sự vận động vũ trụ và ảnh hưởng của nó đến trái Đất với đời sống con người. Nhưng nội dung của nó lại góp phần tạo nên sự bí ẩn của lịch sử thuyết Âm dương Ngũ hành và cũng là đề tài tranh luận qua nhiều thế hệ.


Trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn cũng để lại rất nhiều những khái niệm bí ẩn khác, mà cho đến tận ngày nay đã không biết bao nhiêu học giả tốn rất nhiều công sức vẫn chưa lý giải được. Thí dụ như những khái niệm về lục khí, ngũ vận ứng dụng trong y lý. Nhưng một hiện tượng đặc biệt rất đáng lưu ý là: trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn, một cuốn sách được các nhà nghiên cứu cho là xuất hiện vào thời Xuân thu Chiến Quốc – tức là tiên Tần – lại ghi nhận dấu ấn của Hà Đồ, khi lý giải những vấn đề cơ sở lý luận ứng dụng trong Đông y. Đoạn sau đây được trích trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn toàn tập (*) (Nhà thuốc Hồng Khê /Hanoi, xuất bản 1954 - dịch giả Nguyễn Tử Siêu) được trích dẫn trong phần “Kim quỷ chân ngôn luận”:

*Chú thích: Cuốn sách này được dịch từ cuốn “ Hoàng Đế nội kinh tố vấn hợp chú” của Trương Ân Am và Mã Nguyên Đài. Đây là cuốn sách dịch được coi là ưu tú nhất trong các bản dịch “Nội Kinh” từ trước đó đến nay. Nhưng nội dung của nó còn thiếu hai phần là: Thích Pháp luận & Bản Bệnh luận.

Hoàng Đế hỏi:
- Năm tàng ứng với bốn mùa, vậy có sự thâu thu gì không? Kỳ Bá thưa:

1- Đông phương sắc xanh, thông vào can, khai khiếu lên mắt, tàng tinh ở can, phát ra bệnh thành chứng kinh sợ. Về vị là chua, thuộc về loài thảo MỘC, thuộc về lục súc là gà, thuộc về ngũ cốc là lúa mạch, thuộc về bốn mùa trên ứng với Tuế tinh, xuân khí thuộc về bộ phận đầu, thuộc về âm là tiếng Giác, thuộc về số là số 8, thuộc về mùi là mùi hôi. Do đó, biết là thường phát sinh bệnh ở gân.

2- Nam phương sắc đỏ, thông vào với tâm khai khiếu lên tai, tàng tinh ở tâm. Bệnh phát sinh ở cả năm tàng, về vị là đắng và thuộc về HỎA; thuộc về lục súc là dê, thuộc về ngũ cốc là thử, thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Huỳnh Hoặc, thuộc về âm là tiếng Chuỷ, thuộc về số là số 7, thuộc về mùi là mùi hắc. Do đó, biết là thường phát sinh bệnh ở mạch.

3- Trung ương sắc vàng, thông vào với tỳ, khai khiếu lên miệng, tàng tinh ở tỳ. Bệnh phát sinh ở cuống lưỡi, về vị là ngọt và thuộc về THỔ; thuộc về lục súc là bò, thuộc về ngũ cốc là tắc, thuộc về bốn mùa trên ứng với sao Chấn, thuộc về âm là cung, thuộc về số là số 5, thuộc về mùi là mùi thơm. Do đó, biết là thường phát sinh bệnh tại thịt.

4- Tây phương sắc trắng, thông vào với phế, khai khiếu ở mũi, tàng tinh ở phế. Bệnh phát sinh ở vai, về vị là cay và thuộc về KIM; thuộc về lục súc là ngựa, thuộc về ngũ cốc là đạo, thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Thái Bạch, thuộc về âm là Thương, thuộc về số là số 9, thuộc về mùi là mùi hắc. Do đó, biết là thường phát sinh bệnh tại bì mao.

5- Bắc phương sắc đen, thông vào với thận, khai khiếu ở nhị âm, tàng tinh ở thận. Bệnh phát sinh ở khê, về vị là mặn và thuộc về THỦY; thuộc về lục súc là lợn, thuộc về ngũ cốc là đậu, thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Thần, thuộc về âm là Vũ, thuộc về số là số 6, thuộc về mùi là mùi húc mục. Do đó, biết là thường phát sinh bệnh ở xương.

Qua phần trích dẫn trên, chúng ta quán xét độ số và hành ở các phương vị sẽ thấy là:
1) Phương Đông thuộc Mộc/ Sắc Xanh Độ số 8
2) Phương Nam thuộc Hoả/ Sắc Đỏ Độ số 7
3) Trung ương thuộc Thổ/ Sắc Vàng Độ số 5
4) Tây phương thuộc Kim/ Sắc Trắng Độ số 9
5) Bắc phương thuộc Thuỷ/ Sắc Đen Độ số 6
So sánh phương vị/ hành và độ số nói trên với Hà Đồ, chúng hoàn toàn có sự trùng khớp. Hà Đồ vốn được coi là căn nguyên của nền lý học Đông phương. Do đó, sự trùng khớp nói trên không thể coi là hiện tượng ngẫu nhiên. Điều này chứng tỏ rằng: Khi hình thành cuốn sách này, tác giả của nó đã biết đến Hà đồ và những nguyên lý ứng dụng của nó ảnh hưởng đến đời sống Trái Đất và con người. Xin xem hình vẽ sau:

Hình minh họa
Sự ứng dụng phương vị Ngũ hành của Hà đồ trong Hoàng Đế nội kinh

Qua đồ hình trên, quí vị cũng nhận thấy sự liên hệ trùng khớp độ số và phương vị Ngũ hành trong Hoàng Đế nội kinh với Hà đồ. Sự
liên hệ này cho thấy: Hà đồ là một thực tế đã tồn tại và đã được ứng dụng trước thời điểm hình thành cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn.
Vậy tại sao đến đời Tống, những học giả Hoa Hạ mới biết đến Hà Đồ? Tại sao Khổng Tử viết thập Dực đã nói đến “Hà xuất Đồ / Lạc xuất thư” lại không miêu tả tại Hà Đồ cho các đệ tử? Nếu Khổng Tử đã biết đến Hà Đồ thì tại sao Kinh Dịch lại không hề có một chữ nói đến Ngũ hành khiến “Thuyết Âm Dương Ngũ Hành từng bước hoà nhập vào đời Hán?”
Vấn đề cũng không dừng lại ở đây!
Qua phần chứng minh ở trên, chúng ta cũng thấy rằng Hà Đồ đã được ứng dụng trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Điều này cho thấy thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh, đã có từ lâu trong cổ học Đông phương và thể hiện sự nhất quán và hoàn chỉnh qua phương pháp luận của nó trong nội dung cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn.
Như vậy, cho dù cuốn sách này “xuất hiện vào thời Xuân Thu Chiến Quốc” như các nhà nghiên cứu quốc tế giả định thì nền văn minh Hoa Hạ không thể là chủ nhân sáng tạo của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Điều rất đơn giản là: Không hề có tính kế thừa học thuyết này trong lịch sử sáng tạo, phát triển của nó vốn được coi là thuộc về nền văn minh Hoa Hạ. Đến đây người viết xin được một lần nữa lưu ý bạn đọc quan tâm là: Trên thực tế cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn không thể có chỗ đứng trong thời gian lịch sử của nền văn minh Hoa Hạ. Điều này chỉ có thể giải thích rõ ràng là: Nó không có nguồn gốc thuộc về nền văn minh này. Nếu cho rằng sự sai lệch này là do thất truyền thì đó chỉ là một lý do khiên cưỡng và không hợp lý. Bởi vì, Hoàng Đế nội kinh không phải là bằng chứng duy nhất chứng minh cho giả thuyết trên. Dấu ấn cho sự hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành và Hà Đồ còn nằm trong một số sách mà chính các nhà nghiên cứu cho rằng: “Thời tiên Tần có Hà Đồ/ Lạc Thư hay không vẫn còn là một câu hỏi?”. Để chứng minh điều này, xin bạn đọc quan tâm xem đoạn trích dẫn sau đây:

Lã Thị Xuân Thu và dấu ấn của Hà đồ.

Trong các cổ thư chữ Hán được coi là trước Tần, ngoài Hoàng Đế nội kinh tố vấn, dấu ấn của Hà Đồ còn được ghi nhận ở Lã Thị Xuân Thu, một tác phẩm được coi là của Lã Bất Vi viết vào thời kỳ đầu của đế chế Tần. Lời giới thiệu trong sách Lã Thị Xuân Thu do Phan Văn Các dịch. Nxb Văn Học & Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây xuất bản 1999, viết:

“Lã Bất Vi bèn sai các thực khách của mình viết ra những điều nghe biết, tập hợp lại làm thành “bát lãm” và “lục luận”, “thập nhị kỷ” cộng hơn hai mươi vạn chữ , coi là có đủ “ thiên địa vạn vật cổ kim chi sự”, đặt tên là Lã Thị Xuân Thu, và “đặt ở cổng chợ Hàm Dương, treo ngàn lạng vàng trên đó, mời du sĩ tân khách chư hầu ai thêm bớt được một chữ thì thưởng ngàn lạng vàng”.
“Hán thư nghệ văn chí” đã coi đó là tác phẩm tiêu biểu của “tạp gia”, đánh giá rằng về học thuật , sách ấy “kiêm Nho Mặc, hợp Danh Pháp (gồm cả Nho gia lẫn Mạc gia, ghép vào cả Danh gia với Pháp gia).
Ở thời hiện đại, Hầu Ngoại Lư cho đó là khởi nguồn của Tạp gia, là sự nhào trộn “kiệm thính tạp học” không có tinh thần sáng tạo, nhiều học giả chỉ thừa nhận giá trị sử liệu của nó mà thôi.
Nhưng nhà sử học Phùng Hữu Lan cho rằng: “Sách này không đặt tên Lã tử, mà đặt tên Lã Thị Xuân Thu, hẳn là Văn Tín Hầu vốn đã coi sách của mình là sử. Sử ký nói rằng: Lã Bất Vi coi sách của mình chứa đủ muôn vật trong trời đất cùng mọi việc xưa nay, đặt tên là Lã Thị Xuân Thu cũng đã coi đó là sử. Tựa niên biểu mười hai chư hầu trong Sử Ký đặt ngang hàng Lã Thị Xuân Thu với Tả Thị Xuân Thu và Ngu Thị Xuân Thu, chứng tỏ sử công cũng coi sách đó là sử rồi”


Trong nội dung của sách Lã Thị Xuân Thu nói đến sự vận hành có tính qui luật của thời tiết từng tháng trong năm và sự ứng xử của các bậc đế vương thuận theo tự nhiên để điều hành đất nước. Phần này được chia làm 12 kỷ. Đoạn trích dưới đây chứng tỏ điều này:

Mười hai kỷ sắp xếp theo trình tự bốn mùa, mỗi mùa có ba kỷ: Mạnh, Trọng, Quý. Kỷ thủ là nguyệt lệnh của tháng . Xuân chủ sinh, Hạ chủ trưởng, Thu chu thu, Đông chủ tàng (*).

* Chú thích trong sách đã dẫn: Thâp nhị kỷ chính là thiên nguyệt lệnh trong sách Lễ ký, mười hai tháng sắp xếp làm mười hai thiên, sau mỗi thiên đều chen thêm bốn thiên khác. Bốn kỷ xuân hạ thu đông, xuân nói về sinh, hạ nói về trưởng, thu nói về thu (hoạch), đông nói về cất giấu. Bốn thiên phụ vào mỗi kỷ cũng đều phối hợp theo trình tự xuân sinh, hạ trưởng, Thu thu, Đông tàng mà trình bày các quan điểm về phép tồn sinh, thể thích mà tăng trưởng, vạn vật thu gom, chết đích đáng, chết có giá trị. Bản mẫu của thiên đầu mỗi kỷ trong thập nhị kỷ và hạ tiểu chinh đều là sách nông lưu hành trong dân gian. Mạnh xuân là tháng đầu trong lịch nhà Hạ, tức tháng giêng. Đây là thiên Mạnh xuân, không phải Kỷ, các “Kỷ” ở sau đều như vậy.

Trong cuốn Lã Thị Xuân Thu, dấu ấn mang nội dung của Hà Đồ thể hiện trong các đoạn tiêu biểu được trích dẫn sau đây:

Mạnh Xuân Kỷ

Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu xuân : Mặt trời ở vị trí sao Doanh Thất. Buổi chiều hôm, sao Sâm ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vĩ ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này ở phương Giáp ất (phương Đông). Vị đế Vương tương ứng với tháng này là Thái cao thị (dựa vào Mộc đức mà xưng Vương). Vị thần đối ứng với tháng này là Mộc thần Câu Mang, động vật tiêu biểu của tháng này là loài có vy, thanh âm tháng này lấy âm Giốc (một trong ngũ âm) làm tiêu biểu, âm luật tháng này phù hợp với Thái Thốc (một trong lục luật). Con số đối ứng với tháng này là số 8 (số của Thiếu Dương), vị đối ứng của tháng này là vị chua, mùi đối ứng với tháng này là mùi tanh.

Mạnh Hạ Kỷ.

Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa hạ: măt trời ở vị trí của sao Tất. Buổi chiều hôm sao Dực ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vụ Nữ ở phương Bính Đinh (phương Nam). Vị đế Vương tương ứng tháng này là Viêm Đế (dựa vào hoả đức mà xưng Vương). Vị thần đối ứng tháng này là Hoả thần Chúc Dung. Động vật tiêu biểu tháng này là loài chim có lông vũ. Thanh âm tháng này lấy âm Chuỷ (một trong ngũ âm) làm tiêu biểu. Âm luật tháng này hợp với Trọng Lữ. Con số đối ứng tháng này là số 7. Đặc điểm của tháng này là lễ tiết. Sự việc tháng này là xem.

Mạnh Thu Kỷ

Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa thu: mặt trời ở vị trí của sao Dực. Buổi chiều hôm sao Đẩu ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này ở phương Canh Tân (phương Tây). Vị đế vượng ứng với tháng này là họ Thiếu Hạo (lấy đức Kim mà xưng Vương thiên hạ). Vị thần ứng với tháng này là Kim thần nhục thu (tên là Cai). Động vật tiêu biểu tháng này là loại thú có lông mao. Thanh âm tháng này lấy Thương làm tiêu biểu. Âm luật tháng này hợp với Di Tắc (một trong lục luật). Con số đối ứng tháng này là số 9 ( số của Thiếu Âm). Vị tương ứng tháng này là vị cay. Mùi tương ứng tháng này là mùi tanh, tế tự tháng này ở cửa.

Mạnh Đông Kỷ

Thiên thứ nhất nói rằng
Tháng đầu mùa đông: mặt trời ở vị trí của sao Vĩ. Buổi chiều hôm sao Nguy ở phương chính Nam, buổi sáng sớm Thất tinh ở phương chính Nam Mặt trời tháng này ở phương Nhâm Quý (phương Bắc). Vị đế Vương ứng với tháng này là Chuyên Húc (lấy đức Thuỷ mà xưng Vương thiên hạ). Vị thần ứng với tháng này là Huyền Minh (thuỷ thần). Động vật tiêu biểu tháng này là loài giáp giới (đại biểu là rùa). Thanh âm tháng này là Vũ (một trong ngũ âm). Âm luật tháng này hợp với ứng chung (một trong lục l). Con số của tháng này là số 6. Vị tương ứng tháng này là vị mặn. Mùi tương ứng tháng này là mùi húc mục, Tháng này tế tự đất trong cửa. Lúc tế tự trước phải dâng thận. Tháng này, nước bắt đầu đóng băng, đất bắt đầu đông giá. Gà rừng xuống nước biến thành con sò. Cầu vồng ẩn náu không xuất hiện. Tháng này thiên tử ở trong phòng đầu tây của nhà hướng Bắc, ngồi xe đen, thắng xe bằng ngựa đen. Trên xe có cờ đen, mặc áo đen, đeo ngọc đen làm đồ trang sức. Ăn kê nếp và thịt lợn. Đồ tế khí to mà chúm miệng.

Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Nếu chúng ta lấy độ số và hành của 4 mùa Xuân / Hạ/ Thu/ Đông và liên hệ với Hà Đồ thì một lần nữa nó lại trùng khớp. Như vậy, không chỉ Hoàng Đế mà ngay cả Lã Bất Vi (?) cũng đã sử dụng độ số của Hà Đồ???. Chưa hết! Thập nhị kỷ trong Lã Thị Xuân Thu chính là thiên Nguyệt Lệnh trong sách Lễ Ký tất yếu cũng có dấu ấn Hà Đồ. Tất cả những sách này đều thuộc về Tiên Tần. Nhưng cho đến ngày hôm nay: Các học giả tầm cỡ quốc tế ( kể cả của ngay chính Trung Hoa) vẫn không thấy dấu ấn Hà Đồ trong cổ thư trước Tần??? Và chính Kinh Dịch vốn được coi là của Khổng Tử lại là cuốn sách cổ nhất nói đến Hà Đồ (Hà xuất đồ, Lạc xuất Thư)???
Nếu như trong sách Thượng Thư thiên Cổ Mệnh chỉ nhắc đến Hà đồ được vẽ ở vách cung điện nhà Chu một cách mơ hồ, thì Hoàng Đế nội kinh & Lã Thị Xuân Thu ghi lại những dấu ấn liên quan đến nội dung của nó.
Phần chứng minh trên đây đã chứng tỏ với bạn đọc rằng: Học thuyết quái khí ứng với 4 mùa được coi là của Kinh Phòng, Mạnh Hỉ phát minh vào đời Hán, thực chất chỉ là sự lặp lại và diễn đạt dưới một hình thức khác những phát kiến đã có từ trước đó. Như vậy, cũng chứng tỏ Hà Đồ đã được phát hiện từ rất lâu trong nền văn minh cổ Đông phương và đã được ứng dụng trên thực tế. Nếu cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn có một xuất xứ mơ hồ, người ta có thể dựa vào cớ thất truyền để giải thích sự vắng mặt của Hà Đồ trải hàng ngàn năm: kể từ đời Hán đến Tống; nhưng với Lã Thị Xuân Thu là một tác phẩm được coi là của chính vị tể tướng đời Tần mà khoảng cách thời gian không quá 14 năm cho sự bắt đầu của đời Hán thì thật là một sự vô lý không thể lý giải nổi bằng tính thất truyền. Tính thất truyền đó chỉ có thể lý giải từ văn minh Lạc Việt với hơn 1000 Hán hoá.
Như vậy, cả ba cuốn sách Hoàng Đế nội kinh, Lã Thị Xuân Thu & Lễ Ký đều mang dấu ấn của Hà đồ lưu truyền từ thời Hán cho đến Tống, là thời điểm Hà Đồ được công bố. Nhưng trong cả ba cuốn sách nói trên không hề có sự liên hệ lý giải tính ứng dụng của nó và cho đến ngày hôm nay Hà đồ vẫn còn là điều bí ẩn: Từ lưng con Long Mã trên sông Hoàng Hà (?). Điều này chứng tỏ rằng: Không hề có tính kế thừa là một điều kiện cần thiết để chứng tỏ tính phát triển liên tục của một nền văn minh. Nó cũng chứng tỏ tính công bố và phát hiện của các học giả thời Tống về đồ hình Hà Đồ, khi dấu ấn sự ứng dụng của Hà Đồ đã có ở những cổ thư trước Tần. Trên đây là yếu tố thứ nhất, nhưng không phải là duy nhất để chứng tỏ rằng: Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán ngay từ trạng thái khởi nguyên của nó. Vấn đề vẫn chưa kết thúc.
Như vậy, phần trên người viết đã chứng minh tính nhất quán và hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành qua cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn, thông qua sự ứng dụng của Hà Đồ, một hình tượng liên quan đến Kinh Dịch. Những ai đã xem kinh Dịch đều biết đến đó là cuốn sách đầu tiên nói đến Hà Đồ, Lạc Thư như một nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương. Và cũng chính cuốn Kinh Dịch với vị trí kỳ vĩ của nó trong văn hoá Đông Phương, chỉ nói tới Âm Dương mà không nói tới Ngũ Hành là một trong những nguyên nhân quan trọng để các nhà nghiên cứu tách thuyết Âm dương ra khỏi Ngũ hành. Nhưng đấy chỉ là một cái nhìn rất máy móc và sai lầm. Thực tế đã chứng tỏ rằng: Tất cả các phương pháp ứng dụng phổ biến (Phong thuỷ/ Đông y/ Tử Vi/ Tứ Trụ...) đều sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành. Chính ông Thiệu Vĩ Hoa đã đặt vấn đề về sự ra đời cùng lúc của thuyết Âm dương Ngũ hành (đã trích dẫn). Nhưng họ không thể chứng minh được vì tính thiếu nhất quán/ hoàn chỉnh/ sự sai lệch và không hợp lý về nội dung của các bản văn chữ Hán. Đấy chính là yếu tố quan trọng để chứng tỏ sự phát triển liên tục và nhất quán của một học thuyết (ở đây là thuyết Âm dương Ngũ hành). Bởi vậy nó không thuộc về nền văn minh Hoa Hạ, vì nền văn minh này đã không thể hiện được điều đó. Nhưng nếu không chứng minh được sự liên hệ giữa các ký hiệu của Chu Dịch với Ngũ hành thì vấn đề đặt ra cho sự nhất quán của thuyết Âm dương Ngũ Hành vẫn chưa hoàn chỉnh.
Thực ra điều này, đã có ngay trong các bản văn dù rất mơ hồ đó chính là câu: “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư. Thánh nhân tắc chi” đã nói đến nguyên lý căn bản của các ký hiệu Dịch (Bát quái) liên quan đến Đồ/ Thư. Hay nói một cách khác: Bát quái có cơ sở là Ngũ hành vì Đồ / Thư mang nội dung Ngũ hành (Cho dù là Đồ hay Thư). Những chính sự sai lệch trong các nhà trứ tác Hán nho thuộc văn minh Hoa Hạ trải hàng thiên niên kỷ đã khiến người ta không thể nào tìm thấy sự liên hệ này khi cho rằng: “Tiên thiên bát quái liên hệ với Hà đồ”“Hậu thiên bát quái liên hệ với Lạc Thư” (Xin lưu ý quí vị là: Những ý tưởng này không có trong chính văn Kinh Dịch, mà do đời sau thêm vào để giải thích. Cũng như thuyết Vô Cực là do Chu Hy thêm vào từ đời Tống). Bởi vậy, phần tiếp theo đây sẽ lý giải điều này.

Còn tiếp

Nguyễn Vũ Tuấn Anh

Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương

>>> Xem tất cả bài viết cùng chủ đề
Diễn đàn khoa học kỹ thuật | Hãy cùng khám phá thế giới
CÔNG CỤ HỖ TRỢ
Trình Tử Vi Lạc Viêt
Trình Tử Vi Lạc Viêt

 Các vấn đề quan tâm