Nhân tướng phú
La Kinh Thấu Giải
Hoa cảnh ứng dụng phong thủy
Tử vi đẩu số phú giải
Định mệnh có thật hay không?
Thứ tư, 21/05/08, 14:18:32 GMT+7

Định mệnh có thật hay không? - 27

Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương
Nhà xuất bản văn hóa thông tin

Lý thái cực

* Giai đoạn khởi nguyên (Thái Cực) là tính tuyệt đối với vận tốc = |0|. Không không/ thời gian; tự nó/ do nó; không có cái Có/ Không; không Tĩnh/ Động. Đây là giây 0 trước tất cả những thực tại đang hiện hữu mà tri thức con người đã nhận thấy và sẽ nhận thấy, hoặc có thể nhận thấy. Chính là tính nhận biết/ tính Thấy cho tất cả mọi sự vận động mang thuộc tính vật chất.


Thái Cực là một thực tại có thể tính, chính là Tính thấy mà Đức Thích Ca đã minh giảng ý nghĩa của nó, có thể liên hệ với khái niệm Đạo trong Đạo Đức kinh.
Trong Đạo đức kinh, chính vì tính tuyệt đối khó diễn đạt đó nên mở đầu Lão Tử đã viết: “Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải Đạo vĩnh cửu bất biến." (Tính tuyệt đối. Người viết).
Tên (Danh từ. Người viết) mà có thể đặt ra được để gọi nó (Đạo) thì không phải là tên vĩnh cửu bất biến”
Nhưng vì là một thực tại nên có thể diễn đạt như một Tính từ trong một điều kiện liên hệ với thực tế nào đó: Tính thấy, tính nhận thức, Trường thông tin, trạng thái năng lượng tĩnh (So với cái động hiện hữu)...
Tính thực tại, tuyệt đối này cũng được diễn tả trong Đạo Đức Kinh như sau: Đạo là cái gì chỉ mập mờ thấp thoáng. Thấp thoáng mập mờ nhưng bên trong có hình tượng. Mập mờ thấp thoàng mà bên trong có vạn vật. Nó thâm viễn tối tăm (Theo tôi: Khái niệm “tối tăm” vì tính khó nhận thức, chứ không phải vì bản thể Đạo là tối. Điều này Lão Tử đã xác định ở phần sau: “ở trên không sáng, ở dưới không tối mà bên trong có cái tinh tuý. Tinh tuý đó rất xác thực và đáng tin!”). Trong văn minh Lạc Việt thể bản nguyên của vũ trụ còn được hình tượng bằng chiếc bánh dầy. Chiếc bánh Dầy bằng nếp giã: mầu trắng tinh khiết, không mùi vị thể hiện sự thuần khiết: không Có/không không, hình tròn tượng cho sự viên mãn và tính tuyệt đối. Tính dẻo thể hiện sự thông biến, chính là Mẹ tròn là cái có trước, là sự khởi nguyên của vũ trụ. Là Thái Cực, là Đạo: “Vạn vật có nguồn gốc, Nguồn gốc đó là Mẹ của vạn vật” (Đạo Đức kinh). Là Dương khi có cái Động/ Âm ra đời (Con vuông/ Bánh Chưng).
Như vậy, với thuyết Âm Dương Ngũ hành thì Thái cực , sự khởi nguyên của vũ trụ là một trạng thái tuỵêt đối, tự nó và do nó, là một thực tại. Đây cũng là điều mà nền minh triết cổ Đông phương dù xuất hiện ở không, thời gian khác nhau đã thống nhất xác định định tính của nó: Phật pháp, Đạo Đức Kinh với Văn minh Lạc Việt. Đây là sự khác biệt hoàn toàn với luận điểm của Bigbang khi cho rằng: Khởi nguyên của vũ trụ là trạng thái cô đặc tuyệt đối của vật chất.
Nhưng vũ trụ đã hình thành như thế nào từ trạng thái tuyệt đối đó?

Thái cực sinh lưỡng nghi...
Trạng thái tuyệt đối – Thái cực – tồn tại bao lâu thì không thể tính được, vì không không / thời gian. Nhưng sự hiện hữu của chúng ta và tất cả vũ trụ hiện nay đã chứng tỏ cái Động đã xuất hiện với tốc độ ban đầu có giá trị tuyệt đối = |0|. Nói một cách khác, nếu có một vật thể chuyển động ở hai đầu của vũ trụ thì giá trị của vận tốc là tức thì. Động, Tĩnh phân biệt: Thái cực sinh lưỡng nghi, mà nền văn hiến trải gần 5000 năm của người Việt đã cô đọng trong một câu thành ngữ nổi tiếng: “Mẹ tròn, con vuông”. Ngày Tết đến - những ngày thiêng liêng nhất trong văn minh của người Việt - bạn hãy để chiếc bánh Dầy màu trắng tinh khiết lên trên chiếc bánh Chưng xanh mướt buộc bốn sợi lạc hồng, bạn sẽ hình dung được ý nghĩa tuyệt vời của câu thành ngữ trải qua bao thế hệ của giống nòi Lạc Việt: “Mẹ tròn, con vuông”. Đó chính là sự lý giải tiên đề nổi tiếng trong kinh Dịch: “Thái cực sinh Lưỡng nghi”.

1- Thiên nhất sinh Thuỷ:
Sự vận động khởi nguyên trong trạng thái một không gian không có bắt đầu và không có kết thúc, sẽ phải là một chuyển động cong và hỗn loạn trong một không gian nhiều chiều (Bởi vì nếu là chuyển động thẳng thì có bắt đầu và kết thúc). Trạng thái tương tác bắt đầu xuất hiện.

2- Thiên nhị sinh Hoả:
Sự va chạm của các quỹ đạo cong trong không gian nhiều chiều với vận tốc vô cùng lớn trong vũ trụ, đã bùng nổ một trạng thái năng lượng Động vô cùng lớn. Đây cũng chính là trạng thái hỗn độn mà trong các cổ thư Đông phương nói đến về sự khởi nguyên của vũ trụ. Sự bùng nổ này mang tính đều khắp và tràn ngập.

3-Thiên tam sinh Mộc
Trạng thái hỗn độn ban đầu dần tự ổn định, dẫn đến sự vậnđộng theo một chiều quay định hướng (Nếu không tự ổn định thì sự bùng nổ vẫn tiếp tục do va chạm với tốc độ cực lớn). Tức là chiều quay của các thiên hà trong vũ trụ hiện nay, theo tính hợp lý của nó phải hình thành một trung tâm vũ trụ không ổn định.

4- Thiên tứ sinh Kim
Từ tâm vũ trụ này, hình thành hướng chuyển động vòng xoáy ly tâm cực nhanh đẳng hướng.

5- Thiên Ngũ sinh Thổ
Khối năng lượng động tích tụ dần hình thành dạng vật chất đầu tiên của vũ trụ. Cùng một lúc với sự xuất hiện của các trạng thái trên là sự tương tác của Âm Dương/ Ngũ hành:
“Lưỡng nghi sinh Tứ Tượng” , tức là Tương sinh, Tương khắc, Tương thừa, Tương vũ. Đây chính là cơ sở của “Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng”. Tượng: Hình thức bên ngoài, sự thể hiện bên ngoài tính chất của sự vật hoặc sự việc.
Với luận điểm này thì Tứ Tượng là Sự tương tác của Thể Tính (Âm dương Ngũ hành) chứ không phải Thể Tính. Điều này khác hẳn với cách giải thích của các nhà lý học từ thời Hán về sau cho rằng: Tứ Tượng là Thái Âm, Thái Dương,Thiếu Âm, Thiếu Dương. Với khái niệm của các nhà Lý học Hán thì Tứ Tượng có thể tính và là sự phát triển hoặc suy giảm của thể tính đó (Âm &Dương). Điều này không thể lý giải được sự tương tác về mặt lý thuyết ngay từ sự khởi nguyên của vũ trụ cho dù lý thuyết đó trong cổ thư chữ Hán gọi là cái gì (Âm Dương hoặc Ngũ hành, hoặc cả hai). Chính sự hiểu sai, trải hàng ngàn năm, đã thể hiện không hề có tính phát triển và kế thừa học thuyết này trong lịch sử văn minh Hán. Đó cũng chính là sự cản trở việc tìm hiểu giá trị đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành từ hàng ngàn năm qua, góp phần quan trọng trong việc đẩy nền văn minh Đông phương vào sự huyền bí. Trong các bản văn cổ thư chữ Hán còn lưu truyền, chúng ta có thể thấy khái niệm Thái Âm, Thái Dương,Thiếu Âm, Thiếu Dương trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn nhưng luôn đi kèm với Ngũ hành, như Thiếu Dương tướng Hoả, Thái Dương hàn Thuỷ... Đây cũng là một bằng chứng sắc sảo nữa cho thấy: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh ngay từ những khái niệm khởi nguyên của nó.
Về sự tương tác có ngay từ giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ trong thuyết Âm Dương Ngũ hành thì khoa học hiện đại cũng chứng tỏ rằng:
Như vậy, với cách giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành, chúng ta có thể so sánh với những hiện tượng vật lý vũ trụ mà khoa học hiện đại đã phát hiện để chứng tỏ tính hợp lý của nó:

Tương tác là nguyên nhân đầu tiên và cũng là nguyên nhân cuối cùng của vạn vật. Nguồn gốc và bản thể của thế giới được nghiên cứu nhận thức theo nguyên lý tương tác. Hình thức tương tác như thế nào thì bản chất của sự việc như thế đó.
 
Chính vì thế nên Kinh Dịch mới viết về sự quán xét Tượng khi đoán quẻ, tức là quán xét sự tương tác . Và chính các nhà lý số khi đoán quẻ cân nhắc Ngũ hành sinh khắc, thực chất là quán xét sự tương tác giữa các thể tính trên thực tế, quán xét diễn biến hiện tượng mà quẻ tìm được.
Tất cả mọi hiện tượng trên chỉ xảy ra trong khoảng thời gian cực ngắn, do xuất phát điểm là một trạng thái tuyệt đối. So với cái tuyệt đối 10- 43 giây là một thời gian quá dài. Tốc độ khởi nguyên của vũ trụ = |0| cũng chính là tốc độ giới hạn của vũ trụ.
Bạn đọc có thể so sánh hình ảnh sự vận động của vũ trụ hiện nay trong hình dưới đây với ba đỉnh của tam giác biểu tượng cho vị trí quan sát trong vũ trụ.

Như vậy, với cách giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết âm Dương Ngũ hành, chúng ta có thể so sánh với những hiện tượng vật lý vũ trụ mà khoa học hiện đại đã phát hiện để chứng tỏ tính hợp lý của nó:
* Với hình trên dù quan sát ở bất kỳ vị trí nào trong vũ trụ chúng ta cũng thấy các Thiên Hà đang chạy xa nhau. Nhưng nguyên nhân của nó được giải thích theo một cách khác. Sự bùng nổ từ một trạng thái tuyệt đối: Thái Cực, khác với sự bùng nổ từ trạng thái hữu hạn: Bigbang – vốn không lý giải được trạng thái khởi nguyên và những hạn chế từ khái niệm ý thức, dẫn đến sự ngự trị của Thượng Đế.
* Hiện tượng bức xạ tàn dư tồn tai trong vũ trụ. Được giải thích như nhau sau sự bùng nổ. Nhưng theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thì bức xạ này chỉ hình thành khi vũ trụ đã xuất hiện những chuyển động cong định hướng. Nhưng thuyết Âm Dương Ngũ hành với quan niệm của nó còn được giải thích được nhiều hiện tượng khác mà thuyết bigbang không thể giải thích được:
- Sự chuyển động cong của tất cả mọi thể tính trong vũ trụ từ các hạt vật chất nhỏ nhất đến các Thiên Hà khổng lồ (không thể có chuyển động thẳng trong trạng thái tuyệt đối, không có bắt đầu và kết thúc).
- Các nhà khoa học hiện đại với các phát minh mới nhất của họ đã chứng tỏ trên thực tế một tốc độ vũ trụ lớn hơn tốc độ ánh sáng và theo một lý thuyết đã công bố thì tốc độ vũ trụ gấp 310 lần tốc độ ánh sáng (Lý thuyết này chưa được công nhận). Thuyết Âm Dương Ngũ hành với khái niệm Thái cực, chứng tỏ tốc độ giới hạn của vũ trụ là tuyệt đối = |0|. Đây là một thực tại chỉ có tính lý thuyết và không thể kiểm chứng. Hiện nay, các nhà khoa học đã chứng minh trên thực tế là tốc độ vũ trụ lớn hơn tốc độ ánh sáng. Bạn đọc xem đoạn trích dẫn sau đây chứng tỏ điêu này:

"Thông tin có thể truyền nhanh hơn ánh sáng?
Dù thông tin có đi nhanh đến mấy, hệ quả của nó cũng không thể có trước nguyên nhân.
Vài năm gần đây, nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy ánh sáng truyền trong các môi trường khí siêu lạnh có vận tốc lớn hơn vận tốc truyền trong chân không. Trong khi đó lý thuyết tương đối của Einstein lại khẳng định “không có vật nào có thể chuyển động với vận tốc lớn hơn vận tốc ánh sáng trong chân không”. Liệu các kết quả thực nghiệm ở trên có đáng tin cậy hay lý thuyết tương đối của Einstein đang bộc lộ các mặt hạn chế của nó?... Để giải đáp cho các câu hỏi trên, nhiều giả thuyết vật lý đã được đưa ra. Nếu các kết quả thực nghiệm trên là đáng tin cậy, thì điều này đồng nghĩa với một thực tế là “kết quả” có thể có trước “nguyên nhân”, trái với quy luật “nhân - quả” thông thường mà chúng ta đã biết. Một thí dụ đơn giản, bạn có thể đọc được tất cả những gì tôi đang viết trước khi tôi viết xong... Nó cũng có nghĩa là thông tin có thể truyền nhanh hơn ánh sáng. Bạn có thể tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu thông tin truyền nhanh hơn vận tốc ánh sáng? Khi đó, bất kỳ thiết bị sử dụng nào (thiết bị thu - phát tín hiệu) cũng có thể bị phá hủy dễ dàng bởi một xung ánh sáng tới (do vận tốc quá lớn), gây ra sự chồng chéo và hiện tượng quá tải về thông tin… đó thực sự là một thảm hoạ đối với nhân loại! Trên thực tế, chúng ta coi ánh sáng là một chùm các hạt proton chuyển động với tốc độ thay đổi. Và chúng ta hoàn toàn có thể gán cho chuyển động của toàn bộ chùm hạt với một vận tốc nhóm. Tuy nhiên, một giả thiết có thể đặt ra là thậm chí nếu một số photon ở đầu xung chuyển động với vận tốc lớn hơn vật tốc ánh sáng (giả sử như vận tốc nhóm lớn hơn vận tốc ánh sáng), thì xung vẫn không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến việc truyền thông tin, nó sẽ chỉ truyền thông tin trong trường hợp tất cả các photon đều đã đến nơi. Nhưng một câu hỏi đặt ra là: Tốc độ của thông tin trong một xung là bao nhiêu? Một số nhà vật lí cho rằng tốc độ thông tin có lẽ là vận tốc nhóm, trong khi đó số khác cho rằng trong tất cả các trường hợp tốc độ truyền thông tin luôn nhỏ hơn, hoặc cùng lắm là bằng vận tốc ánh sáng. Tuy nhiên, trong thực tế phần lớn các nhà vật lí đều thừa nhận có sự khác nhau giữa vận tốc nhóm và tốc độ lan truyền thông tin. Daniel Gauthier và các cộng sự thuộc trường Đại học Duke ở Durham, North Carolina, Mỹ gần đây đã tìm ra câu trả lời chính xác cho vấn đề này. Thông qua nghiên cứu của mình, họ đã quan sát được tốc độ truyền thông tin trong môi trường, nơi mà một số photon chuyển động với vận tốc lớn hơn vận tốc ánh sáng. Điều quan trọng mà các tác giả đã chỉ ra là việc truyền thông tin không đơn thuần chỉ là vấn đề gửi tín hiệu đi. Thông tin cần phải được mã hoá và giải mã trong quá trình truyền và nhận tin. Đơn giản như ánh sáng có thể trở nên sáng hơn (khuyếch đại cường độ) trước khi truyền, để tránh sự tổn hao năng lượng trong quá trình truyền tin. Các tác giả cũng cho rằng tốc độ truyền tin cực đại tương ứng với thời điểm sớm nhất mà chúng ta ghi nhận được thông tin đến. Quá trình ghi nhận thông tin diễn ra trong một thời gian xác định, nó phụ thuộc vào dạng của xung và lượng nhiễu nền có mặt. Trong khi đó các máy thu cần phân biệt được đâu là sự thay đổi của thông tin, của nhiễu... Thông tin thực sự mà chúng ta ghi nhận được đã phải trải qua các quá trình mã hoá, giải mã và loại nhiễu nền và vì vậy đã ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian truyền tin. Mọi giả thiết vật lý đều chỉ được thừa nhận khi chúng được kiểm chứng thông qua các quan sát thực nghiệm. Thành công mà Daniel Gauthier và các cộng sự gặt hái được là bằng chứng thực nghiệm chứng tỏ: “Thông tin sau khi được mã hoá ở dạng xung và truyền trong môi trường khí các nguyên tử Kali là chậm hơn so với thông tin ở dạng xung - truyền trong chân không với vận tốc ánh sáng”. Thậm chí khi vận tốc nhóm của xung vượt xa vận tốc ánh sáng, vận tốc truyền thông tin vẫn sẽ không thể vượt qua được vận tốc ánh sáng. Điều đó có nghĩa là “thông tin thực sự không thể truyền nhanh hơn ánh sáng”

Trích VnExpress/2/11/2003

Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng thấy rằng: Tốc độ ánh sáng không phải tốc độ giới hạn của vũ trụ trên thực tế. Mặc dù tính tuyệt đối của tốc độ giới hạn vũ trụ chỉ có trên lý thuyết và không thể kiểm chứng.
* Chính tính tuyệt đối này giải thích nội dung tính nhận biết (Tính thấy) của các trạng thái vận động của vật chất trong quá trình hình thành và tiến hoá trong vũ trụ, thông qua các phương tiện nhận biết có thuộc tính vật chất trong những cá thể do Động Tĩnh phân biệt. Tất nhiên kể cả sự vận động của ý thức: Đây cũng là điều mà Đức Thích Ca minh giảng: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính và bình đẳng trước Phật”... Đây cũng chính là cơ sở của nền văn hiến Lạc Việt về tình yêu thương con người và sự hoà nhập với thiên nhiên.
* Tất cả vũ trụ đang vận động có qui luật, sau khi sự bùng nổ trở lại trạng thái ổn định. Chính tính qui luật được nhận thức này thể hiện trong thuyết Âm Dương Ngũ hành đã làm nên khả năng tiên tri của nó. Về vấn đề này, cho dù có thể xuất phát từ những cái nhìn khác nhau về khả năng lý giải hiện tượng tiên tri mà không ít người cho rằng: Do trực giác tâm linh. Nhưng tính tiên tri là hệ quả của một lý thuyết và phải có sau lý thuyết. Thực tế hiện hữu của những lý thuyết khoa học hiện nay chứng minh điều này. Do đó, những phương pháp luận lý giải khả năng tiên tri của học thuyết này chỉ xuất hiện sau khi lý thuyết đã hoàn chỉnh.
Chính sự phát triển của khoa học hiện đại đặc biệt là các lý thuyết khoa học hiện đại đã hé mở cho chúng ta cánh cửa huyền bi của nền văn minh Đông Phương, mà cho đến nay, một số nhà khoa học hàng đầu đã có sự liên hệ về mặt hiện tượng (Đạo của Vật lý; đã trích dẫn). Điều này cũng chứng tỏ sự tiên tri kỳ vĩ của nền văn minh Lạc Việt qua truyện Trê Cóc. Người viết tin rằng:
Với những di sản văn hoá phi vật thể của nền văn minh Lạc Việt kết hợp với những thành tựu khoa học hiện đại trong hiện hữu và trong tương lai sẽ dẫn đến sự hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Một lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang mơ ước.
Như vậy, với sự lý giải sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành là một bằng chứng nữa chứng tỏ giả thuyết đã chứng minh qua cổ thư còn lại: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh trên thực tế trong quá khứ đã tồn tại của nó. Ngũ hành là những khái niệm diễn tả thực tại vận động có thuộc tính vật chất ngay từ giai đoạn đầu hình thành vũ trụ mang tính biểu kiến. Bởi vậy, ngũ hành gồm: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ không phải là những khái niệm cụ thể – Vốn được các học giả gán ghép sự thô sơ trực quan cho cổ nhân – khi con người nhận thức thực tế môi trường trái đất: Thuỷ là nước, Mộc là cây. Cây, nước... vốn chỉ là hình tượng của Ngũ hành. Nhưng vấn đề chắc chắn chưa thể dừng lại ở đây. Vì chúng ta đều thấy rằng: Từ khi con người - trong chuỗi thời gian lịch sử hiện nay đã nhận thức được - biết được trái đất quay, cho đến khi làm ra một phương tiện mà cách đây hơn 100 năm có thể coi là thần thánh là chiếc điện thoại cầm tay, thì thời gian đã là gần 500 năm với sự phát triển đều khắp của các mặt trong quan hệ xã hội. Vậy từ sự khởi nguyên vũ trụ theo cách giải thích của một học thuyết cho đến khi có một tri kiến tiên tri đến chi tiết đòi hỏi hàng ngàn năm đã trôi qua. Nên sự phục hồi hoàn chỉnh một học thuyết đã thất truyền không thể đơn giản. Có lẽ nó cần đến một sự công tác của nhiều ngành khoa học và có tính quốc tế. Hoặc chí ít cũng là sự cộng tác của nhiều nhà nghiên cứu thực sự có nhiệt tình và khả năng. Nhưng, nếu quả thực thuyết Âm Dương Ngũ hành là một lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang mơ ước. Tức là nó vượt xa tri thức của nhân loại hiện đại thì vấn đề sẽ được đặt ra : Nó thuộc về nền văn minh nào trong quá khứ của nhân loại?

Còn tiếp

Nguyễn Vũ Tuấn Anh

Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương

>>> Xem tất cả bài viết cùng chủ đề
Diễn đàn khoa học kỹ thuật | Hãy cùng khám phá thế giới
CÔNG CỤ HỖ TRỢ
Trình Tử Vi Lạc Viêt
Trình Tử Vi Lạc Viêt

 Các vấn đề quan tâm